Lưu Thái Tuế an vào cung có chi trùng chi của năm đang xét; lưu Lộc Tồn an theo can của năm, đúng bảng an Lộc Tồn gốc; lưu Kình Dương đứng ngay cung trước lưu Lộc Tồn theo chiều thuận, lưu Đà La đứng ngay cung sau. Bốn sao này là bộ khung tối thiểu của một năm trên lá số, trước khi tính tới lưu tứ hoá hay các sao lưu khác.
Bài thực hành trên lá số giả định tuổi Tân Mùi, âm nữ, Mệnh an tại Dần có Vũ Khúc, Thiên Tướng, Thiên Việt; Mộc tam cục, đại vận đi thuận. Năm được chọn làm ví dụ mang can chi Canh Thân, ứng với tuổi 50 (âm lịch) của người tuổi Tân Mùi. Không có năm dương lịch nào được gắn vào, vì mục đích là học cách đặt lớp, không phải đoán năm.
Bảng an Lộc Tồn và cặp Kình Đà theo can
Lộc Tồn gốc an theo can năm sinh, lưu Lộc Tồn an theo can năm đang xét, dùng chung một bảng. Kình Dương luôn đứng cung kế tiếp theo chiều thuận, Đà La đứng cung liền trước:
| Can | Lộc Tồn | Kình Dương | Đà La |
|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Dần |
| Bính, Mậu | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Đinh, Kỷ | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Hợi |
Có hai điều nên để ý. Thứ nhất, Lộc Tồn không bao giờ đóng ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; vì vậy Kình Dương và Đà La lại có mặt ở đó thường xuyên. Thứ hai, can Bính và Mậu dùng chung một vị trí, can Đinh và Kỷ cũng vậy, nên hai năm khác can có thể cho cùng một bộ Lộc Kình Đà.
Với lá số mẫu tuổi Tân, Lộc Tồn gốc ở Dậu, Kình Dương gốc ở Tuất, Đà La gốc ở Thân. Năm Canh đặt lưu Lộc Tồn ở Thân, lưu Kình Dương ở Dậu, lưu Đà La ở Mùi. Chỉ cần đặt hai bộ cạnh nhau là đã thấy chúng gối lên nhau.
Bước một: lưu Thái Tuế về cung Thân
Năm Canh Thân có chi Thân, nên lưu Thái Tuế đóng ở cung Thân. Trên lá số mẫu, Thân là cung Thiên Di gốc, chứa Phá Quân và Đà La gốc; đây cũng là cung an Thân của lá số (Thân cư Thiên Di). Nhiều phái coi cung lưu Thái Tuế là "cung Mệnh của năm" (lưu niên Mệnh): đề tài của cung ấy và tính chất các sao trong đó được xem là chủ đề của năm.
Với lá số mẫu, chủ đề năm theo cách đọc này là di chuyển, môi trường bên ngoài, giao tiếp với người lạ, cộng thêm sắc thái thay đổi, làm lại của Phá Quân. Vì Thân cũng là cung an Thân, một số sách nói năm lưu Thái Tuế về cung Thân thì đề tài "cách mình hành xử trong đời" được nhấn mạnh hơn thường lệ.
Nếu theo phái lấy tiểu hạn làm cung chính của năm, cần tính thêm: tuổi Mùi khởi tiểu hạn tại Sửu, nữ đi nghịch, đếm tới tuổi 50 được cung Tý (Phu Thê gốc, Tham Lang). Như vậy cùng một năm, phái dùng lưu Thái Tuế sẽ nhìn vào Thân, phái dùng tiểu hạn sẽ nhìn vào Tý, mà Tý lại là cung xung chiếu của đại vận Ngọ. Bài này theo lưu Thái Tuế để minh hoạ các sao lưu, nhưng người đọc nên ghi cả hai vào bảng.
Cần phân biệt lưu Thái Tuế với chuyện "năm tuổi". Năm tuổi là năm có chi trùng chi năm sinh, tức năm Mùi với người tuổi Mùi; khi đó lưu Thái Tuế về cung Mùi, chứ không phải về cung Mệnh. Ở lá số mẫu, Mùi là cung Nô Bộc không có chính tinh. Hai khái niệm này hay bị nói lẫn trong đời thường.
Bước hai: đặt lưu Lộc Tồn, lưu Kình, lưu Đà và đọc chỗ gối nhau
Thân: lưu Lộc Tồn chồng lên Đà La gốc. Năm Canh, lưu Lộc Tồn về Thân, cùng cung với lưu Thái Tuế và Đà La gốc. Sách đọc Lộc Tồn là nguồn lực ổn định, sự tích luỹ, có phần thận trọng. Gặp Đà La gốc, lời đọc thường là nguồn lực có nhưng đi kèm chậm chạp, phải kiên nhẫn. Đặt cạnh Phá Quân, người đọc có thể hiểu: thay đổi trong năm có vốn liếng để làm, nhưng nên đi từng bước.
Dậu: lưu Kình Dương chồng lên Lộc Tồn gốc. Cung Dậu là Tật Ách gốc, có Lộc Tồn gốc của tuổi Tân. Năm Canh, lưu Kình Dương đến đây. Cặp "Lộc gặp Kình" trong sách được hiểu là nguồn lực bị cạnh tranh, phải giành giữ. Vì cung gốc là Tật Ách, cách đọc hợp lý chỉ dừng ở lời nhắc giữ nhịp làm việc và nghỉ ngơi; không suy đoán bệnh tật từ lá số.
Mùi: lưu Đà La đến cung vô chính diệu. Cung Mùi (Nô Bộc gốc) không có chính tinh. Lưu Đà La ở đây có sức nặng tương đối lớn vì không có sao chủ nào "đỡ". Đọc theo hướng thực tế: các việc phải phối hợp với người khác trong năm dễ kéo dài hơn dự tính.
Tuất: Kình Dương gốc không có lớp lưu nào. Đáng chú ý là cung Tuất (Tài Bạch gốc, Liêm Trinh, Thiên Phủ, bị Tuần) có Kình Dương gốc nhưng năm này không nhận thêm sao lưu nào trong bộ bốn. Người đọc thường bỏ qua những cung "im lặng", trong khi chính chúng giúp phân biệt đâu là điểm nhấn thật của năm.
Bước ba: đặt năm vào đại vận đang chạy
Tuổi 50 của lá số mẫu nằm trong đại vận 43–52 ở cung Ngọ, cung gốc Quan Lộc, có Tử Vi và Thiên Khôi. Tam phương của Ngọ là Tuất (Liêm Trinh, Thiên Phủ, Kình Dương, bị Tuần) và Dần (cung Mệnh: Vũ Khúc, Thiên Tướng, Thiên Việt), xung chiếu Tý (Tham Lang). Phông nền mười năm là công việc, vị thế, có quý nhân Khôi Việt hai đầu trục.
Lưu Thái Tuế ở Thân không nằm trong tam phương của vận Ngọ. Nghĩa là theo cách đọc tam hợp, chủ đề của năm (di chuyển, môi trường bên ngoài) chạy hơi lệch khỏi trục mười năm (công việc). Ngược lại, lưu Thiên Mã năm Thân an ở Dần, đúng cung Mệnh và trong tam phương của vận; lưu tứ hoá năm Canh lại cho Vũ Khúc hoá Quyền cũng ở Dần. Tổ hợp ấy được nhiều người đọc là năm có nhu cầu chủ động, di chuyển, nhận thêm trách nhiệm trong công việc.
Cách đặt năm vào vận như vậy giúp tránh lỗi đọc sao lưu tách rời. Một sao lưu rơi vào cung nằm trên trục vận thường được coi trọng hơn sao lưu rơi vào cung ngoài trục.
Lưu tứ hoá năm Canh và chỗ dị bản
Bộ bốn sao lưu ở trên thường đi cùng lưu tứ hoá theo can năm. Năm Canh theo bảng thông dụng:
- Thái Dương hoá Lộc: ở Mão, cung Phụ Mẫu gốc, cùng Thiên Lương. Trên lá số mẫu, Thái Dương tại Mão cũng đang mang Hoá Quyền gốc của tuổi Tân.
- Vũ Khúc hoá Quyền: ở Dần, cung Mệnh, như đã nói ở bước ba.
- Thái Âm hoá Khoa: ở Hợi, cung Tử Tức gốc, bị Tuần. Dị bản dùng Thiên Phủ hoá Khoa, khi đó Khoa về Tuất.
- Thiên Đồng hoá Kỵ: ở Sửu, cung Huynh Đệ gốc, nơi đã có Cự Môn hoá Lộc, Văn Khúc hoá Khoa, Văn Xương hoá Kỵ của năm sinh. Dị bản dùng Thái Âm hoá Kỵ, khi đó Kỵ về Hợi.
Với can Canh, khác biệt giữa các bảng làm thay đổi hẳn vị trí của Kỵ lưu niên: Sửu hay Hợi. Người đọc không nên chọn bảng nào cho ra lời đọc dễ nghe hơn, mà nên chọn trước theo sách mình học và ghi rõ. Chi tiết về việc chồng ba tầng tứ hoá (năm sinh, đại vận, lưu niên) được bàn riêng ở một bài khác trong danh mục này.
Những hiểu lầm thường gặp về sao lưu
Hiểu lầm thứ nhất: thấy lưu Kình Dương hay lưu Đà La là coi năm đó có "hạn". Trên thực tế, năm nào cũng có lưu Kình và lưu Đà, vì chúng luôn đi kèm lưu Lộc Tồn. Điều đáng đọc là chúng rơi vào cung nào, gặp sao nào, chứ không phải sự có mặt của chúng.
Hiểu lầm thứ hai: lưu Lộc Tồn là "lộc trời cho" trong năm. Lộc Tồn theo sách mang nghĩa tích luỹ, giữ gìn, có phần bảo thủ, khác Hoá Lộc mang nghĩa lưu thông, sinh lời. Đọc lưu Lộc Tồn như lời hứa có tiền là đọc sai cả về sách lẫn về thực tế.
Hiểu lầm thứ ba: đọc sao lưu mà quên sao gốc ở cùng cung. Lưu Kình Dương đến một cung có Lộc Tồn gốc khác hẳn khi đến một cung có Kình Dương gốc (khi đó thành hai lớp Kình chồng nhau). Mỗi sao lưu chỉ có nghĩa khi đặt lên nền của lá số gốc và đại vận.
Hiểu lầm thứ tư: dùng sao lưu của một năm để ra quyết định. Lá số là hệ biểu tượng văn hoá, dùng để nhìn lại và đặt câu hỏi; các sao lưu chỉ là những dấu mốc theo chu kỳ can chi, lặp lại sau sáu mươi năm với mọi người cùng tuổi. Quyết định về công việc, di chuyển, tài chính vẫn cần thông tin thật.
Câu hỏi chuẩn bị cho năm ví dụ
Năm Canh Thân của lá số mẫu có thể được đổi thành những câu hỏi sau:
- Lưu Thái Tuế ở Thiên Di gốc: năm nay mình có kế hoạch đi lại, đổi môi trường, gặp gỡ đối tác mới nào? Đã chuẩn bị đủ thời gian chưa?
- Lưu Lộc Tồn gặp Đà La gốc: nguồn lực cho các thay đổi đã sẵn chưa, và mình có chấp nhận đi chậm để chắc không?
- Lưu Kình Dương ở cung Lộc Tồn gốc: phần tích luỹ nào cần được bảo vệ kỹ hơn trong năm?
- Lưu Đà La ở cung không có chính tinh: việc nào phải phối hợp với nhiều người và cần thêm thời gian dự phòng?
- Lưu Mã và lưu Vũ Khúc hoá Quyền ở cung Mệnh: mình có muốn nhận thêm trách nhiệm không, và sức khoẻ, thời gian có cho phép?
Năm câu hỏi này giữ đúng tinh thần đọc lá số tỉnh táo: dùng biểu tượng để nhắc mình rà lại kế hoạch, không phải để chờ điều gì xảy đến.
Câu hỏi thường gặp
Lưu Thái Tuế và Thái Tuế gốc trên lá số khác nhau thế nào?
Thái Tuế gốc an theo chi năm sinh, đứng đầu vòng mười hai sao Thái Tuế và cố định suốt đời. Lưu Thái Tuế an theo chi của năm đang xét, đổi mỗi năm. Vòng sao Thái Tuế gốc là chủ đề của phần phụ tinh; bài này chỉ dùng lưu Thái Tuế để định cung của năm.
Vì sao Kình Dương luôn đứng trước và Đà La luôn đứng sau Lộc Tồn?
Đó là quy tắc an cố định trong sách: Kình Dương ở cung kế tiếp theo chiều thuận, Đà La ở cung liền trước. Người xưa hình dung Lộc Tồn được hai sao canh giữ hai bên. Quy tắc áp dụng như nhau cho bộ gốc và bộ lưu.
Năm lưu Lộc Tồn trùng Lộc Tồn gốc thì sao?
Điều đó xảy ra khi can năm cho cùng vị trí Lộc Tồn với can năm sinh, ví dụ người tuổi Đinh gặp năm Kỷ. Sách gọi là song Lộc Tồn, thường đọc là nhấn mạnh việc tích luỹ, giữ gìn. Cùng lúc đó Kình, Đà lưu cũng trùng Kình, Đà gốc.
Có cần an thêm lưu Văn Xương, lưu Khôi Việt không?
Một số phái an thêm lưu Văn Xương, lưu Văn Khúc, lưu Khôi Việt, lưu Thiên Mã, lưu Đào Hoa theo can chi năm. Người mới tập nên bắt đầu với bộ bốn sao cơ bản và lưu tứ hoá, rồi thêm dần, để tránh một lá số chi chít sao mà không đọc được.
Năm có lưu Đà La ở cung Mệnh có phải năm trì trệ?
Sách đọc Đà La gắn với chậm chạp, vướng víu, nhưng một sao lưu không quyết định cả năm. Cần xem lưu Thái Tuế, tiểu hạn, đại vận và lưu tứ hoá. Kể cả khi nhiều lớp cùng chỉ về một hướng, đó vẫn chỉ là gợi ý để tự chuẩn bị, không phải lời phán.
Có thể tự kiểm vị trí sao lưu trên lá số in sẵn không?
Được, và nên làm. Chỉ cần biết can chi của năm, dùng bảng Lộc Tồn ở đầu bài để đặt lưu Lộc, Kình, Đà, rồi đặt lưu Thái Tuế theo chi năm. Tự kiểm bằng tay giúp phát hiện khi phần mềm hoặc sách dùng dị bản khác với sách mình học.