ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Cách cục có tên trong sách

Cách Quân thần khánh hội: Tử Vi gặp Tả Phù, Hữu Bật và tháng sinh nào thì có

Quân thần khánh hội là khi Tử Vi ở Mệnh được Tả Phù, Hữu Bật cùng hội. Bài lập bảng tháng sinh âm lịch thành cách theo từng cung, nêu các định nghĩa và phá cách.

A long low wooden table set for a family gathering in a Vietnamese courtyard house, empty chairs neatly arranged on both sides, soft afternoon light, wide symmetrical view

Quân thần khánh hội nghĩa là "vua và quần thần gặp nhau mừng vui": cung Mệnh có Tử Vi, được hai sao phụ tá Tả Phù và Hữu Bật đồng cung, giáp hai bên hoặc hội về qua tam phương tứ chính. Tử Vi là "quân", các sao phụ tá là "thần"; có thần thì quân mới làm được việc.

Vì Tả Phù và Hữu Bật an theo tháng sinh âm lịch, việc có thành cách hay không phụ thuộc trực tiếp vào tháng sinh, điều mà nhiều bài viết bỏ qua. Bài này lập bảng: Tử Vi ở cung nào thì sinh tháng nào mới có Tả Hữu cùng hội về Mệnh; đồng thời nêu các định nghĩa rộng hẹp của các phái, những gì làm cách hỏng và cách đọc tinh thần "có người cùng làm" cho đời nay.

Quân và thần trong hệ sao đẩu số

Tử Vi được gọi là đế tinh, đứng đầu nhóm sao bắc. Sách xưa nói Tử Vi có khả năng "giải ách", giảm bớt cái xấu của sát tinh, nhưng cũng nói Tử Vi cần quần thần mới phát huy. Một ông vua đơn độc, không người phò tá, bị gọi là cô quân: có vị trí mà thiếu lực, phải tự gánh mọi việc, dễ cố chấp.

"Thần" trong cách này trước hết là Tả Phù và Hữu Bật, hai sao chủ về sự trợ giúp, người đỡ tay, cộng sự. Nhiều sách mở rộng sang Văn Xương, Văn Khúc (văn tài, giấy tờ), Thiên Khôi, Thiên Việt (quý nhân, người nâng đỡ), có sách thêm Thiên Tướng như một vị tướng giữ ấn. Sáu sao Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt hay được gộp gọi là lục cát tinh.

Vì vậy định nghĩa của cách có ba mức. Mức hẹp: Tử Vi tại Mệnh có Tả Phù và Hữu Bật đồng cung hoặc giáp hai bên. Mức vừa: Tả Hữu cùng hội về qua tam phương tứ chính. Mức rộng: Tử Vi gặp nhiều cát tinh phụ tá, không nhất thiết đủ Tả Hữu. Khi đọc lời sách khen cách này, cần biết sách đang dùng định nghĩa nào; nhiều tranh cãi chỉ là hai người dùng hai định nghĩa.

Tả Phù, Hữu Bật đi theo tháng sinh và luôn đối xứng nhau

Tả Phù khởi từ cung Thìn ứng với tháng Giêng rồi đếm thuận đến tháng sinh; Hữu Bật khởi từ cung Tuất ứng với tháng Giêng rồi đếm nghịch đến tháng sinh. Hệ quả là hai sao luôn đứng đối xứng nhau qua trục Sửu–Mùi. Sinh tháng Tư, cả hai cùng đến Mùi; sinh tháng Mười, cả hai cùng đến Sửu. Đó là hai trường hợp duy nhất Tả Hữu đồng cung.

Cũng vì đối xứng qua trục Sửu–Mùi, Tả Hữu chỉ có thể "giáp" hai bên một cung nằm trên trục, tức Sửu hoặc Mùi. Sinh tháng Chín hoặc tháng Mười Một, Tả Hữu đứng ở Tý và Dần, kẹp cung Sửu; sinh tháng Ba hoặc tháng Năm, Tả Hữu đứng ở Ngọ và Thân, kẹp cung Mùi.

Ghép với vị trí Tử Vi: Tử Vi ở Sửu hoặc Mùi luôn đồng cung Phá Quân. Như vậy dạng hẹp nhất của Quân thần khánh hội, Tả Hữu đồng cung hay giáp Tử Vi, chỉ xảy ra với bộ Tử Phá ở Sửu, Mùi. Đây là một điều bất ngờ với nhiều người, vì Tử Phá vốn bị sách luận là "vua gặp tướng phá", nhiều biến động. Cấu trúc thật của lá số thường phức tạp hơn hình ảnh mà tên cách gợi ra.

Bảng tháng sinh âm lịch để Tả Hữu cùng hội về Mệnh có Tử Vi

Bảng dưới lập từ quy tắc an sao, theo định nghĩa mức vừa: Tả Phù và Hữu Bật cùng nằm trong tam phương tứ chính của cung Mệnh có Tử Vi (tính cả đồng cung):

Tử Vi tại Mệnh ởTháng sinh có Tả Hữu cùng hộiTả Hữu đứng ở
Tý hoặc DầnTháng 3, tháng 5Ngọ và Thân
Ngọ hoặc ThânTháng 9, tháng 11Tý và Dần
Thìn hoặc TuấtTháng Giêng, tháng 7Thìn và Tuất
SửuTháng 2, 4, 6, 10Tỵ và Dậu; đồng cung ở Mùi; đồng cung ở Sửu
MùiTháng 4, 8, 10, 12đồng cung ở Mùi; Mão và Hợi; đồng cung ở Sửu
Mão hoặc HợiTháng 4, 8, 12đồng cung ở Mùi; Mão và Hợi
Tỵ hoặc DậuTháng 2, 6, 10Tỵ và Dậu; đồng cung ở Sửu

Như vậy với mỗi vị trí Tử Vi, chỉ hai đến bốn trên mười hai tháng cho Tả Hữu cùng hội. Đó là lý do cách này hiếm hơn nhiều người nghĩ. Tháng nhuận được các cách lập lá số xử lý khác nhau (tính theo tháng trước, tháng sau, hoặc chia đôi), nên người sinh tháng nhuận cần biết lá số mình lập theo quy ước nào trước khi đối chiếu bảng.

Phần mở rộng: Khôi Việt theo can năm, Xương Khúc theo giờ

Nếu dùng định nghĩa rộng, cần biết hai cặp sao còn lại an thế nào. Thiên Khôi và Thiên Việt an theo can năm sinh: can Giáp, Mậu ở Sửu và Mùi; Ất, Kỷ ở Tý và Thân; Bính, Đinh ở Hợi và Dậu; Tân ở Ngọ và Dần; Nhâm, Quý ở Mão và Tỵ. Riêng can Canh có hai bản chép, một bản như Giáp Mậu (Sửu, Mùi), một bản như Tân (Ngọ, Dần). Đáng chú ý là theo cả hai bản, Khôi Việt không bao giờ đến hai cung Thìn, Tuất.

Văn Xương và Văn Khúc an theo giờ sinh: Văn Xương khởi từ Tuất ứng giờ Tý rồi đếm nghịch, Văn Khúc khởi từ Thìn ứng giờ Tý rồi đếm thuận. Giống Tả Hữu, hai sao này đối xứng qua trục Sửu–Mùi, đồng cung ở Mùi khi sinh giờ Mão và ở Sửu khi sinh giờ Dậu.

Ghép ba cặp lại sẽ thấy một điều thú vị: Tả Hữu và Xương Khúc đều xoay quanh trục Sửu–Mùi, trong khi Khôi Việt thì không. Vì thế Mệnh có Tử Vi ở Sửu hoặc Mùi là nơi dễ gom phụ tá nhất về mặt cấu trúc. Còn Tử Vi ở Thìn, Tuất thì không bao giờ có Khôi Việt đồng cung, dù tam hợp vẫn có thể nhận được. Những chi tiết này giúp người tự học hiểu vì sao cùng một cách mà sách này khen, sách kia chê: họ đếm phụ tá theo những định nghĩa khác nhau.

Sách luận gì về người có cách

Có người giúp. Lời khen cốt lõi: làm việc gì cũng có người đỡ, dễ được hợp tác, có khả năng tập hợp người. Sách cổ diễn ra thành "được bề trên trọng dụng, kẻ dưới phục tùng".

Tính cách rộng rãi hơn Tử Vi đơn độc. Tử Vi cô quân bị tả là tự cao, khó nghe người khác; có Tả Hữu thì được tả là biết dùng người, ôn hoà hơn. Đây là cách hình tượng hoá: vua có quần thần thì phải biết nghe.

Mặt trái là dựa dẫm. Một số sách lưu ý người có nhiều phụ tá dễ quen việc được giúp, đến khi phải tự quyết thì lúng túng. Tả Hữu cũng bị nhắc là sao "nhị hợp", trong cung Phu Thê có thể chỉ chuyện tình cảm phức tạp; điều này thuộc cung khác, không nên kéo vào Mệnh.

Khác biệt giữa các phái. Có phái đề cao Xương Khúc hơn Tả Hữu cho người làm văn, có phái coi Khôi Việt quan trọng nhất vì là quý nhân. Không có thứ tự chung được mọi sách đồng ý.

Những gì làm cách hỏng hoặc giảm

Sách thường liệt kê các trường hợp sau, đọc như những chỗ cần cân nhắc chứ không phải lời báo xấu:

  • Sát tinh chen vào. Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp vào Mệnh hoặc tam hợp làm "triều đình" có kẻ phá, sách gọi là quân thần bất hoà.
  • Tử Vi gặp Hoá Kỵ ở cung hội. Tử Vi tự nó không hoá Kỵ theo can năm trong bảng thông dụng, nhưng các sao đi cùng thì có, như Tham Lang hoá Kỵ với tuổi Quý, Vũ Khúc hoá Kỵ với tuổi Nhâm, Liêm Trinh hoá Kỵ với tuổi Bính; sao nào trong số đó nằm ở tam phương tứ chính của Mệnh thì phần tương ứng bị coi là trắc trở.
  • Tuần, Triệt án Mệnh. Một số phái nói Tử Vi gặp Tuần Triệt thì như vua bị cô lập, phụ tá đến mà không vào được.
  • Tả Hữu hội mà Tử Vi hãm thế. Tử Vi không có vị trí hãm nặng như các sao khác, nhưng các phái vẫn phân biệt Tử Vi ở Ngọ được khen hơn Tử Vi ở Tý; ở vị trí kém, phụ tá chỉ bù được một phần.
  • Đếm sai tháng. Nhầm tháng dương lịch với tháng âm lịch là lỗi phổ biến nhất khi tự kiểm cách này.

Tử Vi đi cùng sao nào thì phụ tá được đọc khác nhau

Tử Phá ở Sửu, Mùi. Đây là chỗ duy nhất có thể có Tả Hữu đồng cung hoặc giáp Tử Vi. Phá Quân mang tính phá cũ dựng mới; sách luận phụ tá giúp giữ nhịp cho một người hay thay đổi, việc lớn có người cùng gánh.

Tử Sát ở Tỵ, Hợi. Sách có câu Tử Vi gặp Thất Sát thì "hoá sát vi quyền", biến sức ép thành quyền hành. Có phụ tá, ý này được đọc là người quyết liệt mà có đội ngũ đi theo.

Tử Tham ở Mão, Dậu. Sách gọi là "đào hoa phạm chủ", Tử Vi bị Tham Lang kéo về phía hưởng thụ, giao du. Phụ tá ở đây được một số sách coi là giúp kéo lại, số khác nói làm vòng quan hệ thêm rộng.

Tử Phủ ở Dần, Thân và Tử Tướng ở Thìn, Tuất. Hai bố cục thuộc cách Tử Phủ Vũ Tướng. Phụ tá làm bộ máy vốn đã có trật tự càng vững; thiếu phụ tá thì bị chê là cứng nhắc, tự làm hết.

Ví dụ giả định và cách đọc cho đời nay

Giả định một lá số có Tử Vi ở Tý làm Mệnh, người sinh tháng Năm âm lịch. Tả Phù đếm thuận từ Thìn năm cung đến Thân; Hữu Bật đếm nghịch từ Tuất năm cung đến Ngọ. Mệnh ở Tý có tam hợp Thìn, Thân và đối diện Ngọ, nên Tả Phù từ Thân và Hữu Bật từ Ngọ đều hội về. Theo định nghĩa mức vừa, đây là Quân thần khánh hội. Nếu người ấy sinh tháng Sáu, Tả Hữu dời sang Dậu và Tỵ, không còn hội về, cách không thành dù mọi thứ khác giống hệt.

Ví dụ cho thấy một điều quan trọng: cách cục rất nhạy với dữ liệu đầu vào. Lệch một tháng, lệch một canh giờ là lời luận đổi. Đó là lý do nên đọc cách cục như một mô tả cấu trúc có điều kiện, không phải nhãn dán cho con người.

Nếu muốn giữ một ý từ cách này cho đời sống, có lẽ là ý mà chính tên cách đã nói: người dẫn dắt cần người cùng làm, và người cùng làm cần được tôn trọng. Lá số là một hệ biểu tượng có thể gợi ra những câu hỏi như vậy; còn việc xây dựng quan hệ cộng sự, chọn người làm chung thì dựa vào hiểu biết và kinh nghiệm thật.

Câu hỏi thường gặp

Tả Phù và Hữu Bật có thể đồng cung ở cung nào?

Chỉ ở Sửu hoặc Mùi. Tả Phù đếm thuận từ Thìn, Hữu Bật đếm nghịch từ Tuất theo tháng sinh âm lịch, nên hai sao đối xứng qua trục Sửu–Mùi và chỉ gặp nhau trên trục ấy: tháng Tư ở Mùi, tháng Mười ở Sửu.

Tử Vi cô quân nghĩa là gì?

Là Tử Vi ở Mệnh mà không gặp các sao phụ tá như Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt. Sách ví như vua không có người kề cận giúp việc: có vị trí mà phải tự gánh, dễ cố chấp. Đây là hình tượng, không phải lời phán về cô đơn hay thất bại.

Văn Xương, Văn Khúc có tính vào cách không?

Tuỳ phái. Định nghĩa hẹp chỉ tính Tả Phù và Hữu Bật; định nghĩa rộng tính cả Xương Khúc, Khôi Việt. Đáng chú ý là Xương Khúc an theo giờ sinh và cũng đối xứng qua trục Sửu–Mùi, đồng cung ở Mùi khi sinh giờ Mão và ở Sửu khi sinh giờ Dậu.

Sinh tháng nhuận thì tính Tả Hữu thế nào?

Các cách lập lá số không thống nhất: có cách tính theo tháng chính trước đó, có cách tính sang tháng sau, có cách chia đôi tháng nhuận. Người sinh tháng nhuận nên biết lá số mình theo quy ước nào, vì Tả Hữu có thể dời một cung.

Tử Phá ở Sửu, Mùi có Tả Hữu đồng cung thì có phải cách tốt?

Theo định nghĩa hẹp, đó là dạng đầy đủ nhất của Quân thần khánh hội. Nhưng Phá Quân đồng cung khiến lời luận thêm phần biến động. Sách thường nói có người giúp mà đời nhiều thay đổi; nên đọc cả hai mặt.

Có cách nào kiểm nhanh mình có cách này không?

Có: tìm cung có Tử Vi, xem đó có phải cung Mệnh không, rồi đối chiếu tháng sinh âm lịch với bảng trong bài. Nếu tháng sinh không có trong dòng tương ứng thì Tả Hữu không cùng hội về, cách theo định nghĩa mức vừa không thành.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.