Nhật Nguyệt tịnh minh nghĩa là "mặt trời mặt trăng cùng sáng": Thái Dương đóng ở cung ban ngày, Thái Âm đóng ở cung ban đêm, và cả hai cùng chiếu về cung Mệnh qua tam phương tứ chính. Ví dụ hay được dẫn là Thái Dương ở Tỵ, Thái Âm ở Dậu, Mệnh ở Sửu.
Ít ai để ý rằng theo phép an sao, Thái Dương và Thái Âm luôn đứng đối xứng nhau qua trục Sửu–Mùi. Hệ quả là chỉ cần Thái Dương ở nửa ngày thì Thái Âm tự động rơi vào nửa đêm, hai sao cùng sáng; Thái Dương ở nửa đêm thì cả hai cùng tối. Bài này dùng quy luật đó để lập đủ các vị trí tịnh minh, so lời sách các phái và gợi cách đọc cho người hôm nay.
Vì sao Thái Dương và Thái Âm luôn soi gương nhau qua trục Sửu–Mùi
Thái Dương thuộc nhóm Tử Vi, đứng sau Tử Vi ba cung theo chiều nghịch. Thái Âm thuộc nhóm Thiên Phủ, đứng sau Thiên Phủ một cung theo chiều thuận, mà Thiên Phủ lại đối xứng với Tử Vi qua trục Dần–Thân. Cộng hai phép dịch đó lại, vị trí của Thái Dương và Thái Âm luôn đối xứng nhau qua trục Sửu–Mùi: Thái Dương ở Tỵ thì Thái Âm ở Dậu, Thái Dương ở Thìn thì Thái Âm ở Tuất, Thái Dương ở Mão thì Thái Âm ở Hợi, và khi Thái Dương ở Sửu hay Mùi thì hai sao đồng cung.
Người xưa chia mười hai cung thành nửa ngày (từ Dần đến Ngọ, lúc mặt trời mọc lên đến đứng bóng) và nửa đêm (từ Thân đến Tý). Vì trục đối xứng Sửu–Mùi chia đúng hai nửa ấy, Thái Dương ở nửa ngày thì Thái Âm chắc chắn ở nửa đêm. Không có lá số nào Thái Dương sáng mà Thái Âm tối, hay ngược lại, trừ những cung giáp ranh mà các bảng miếu hãm xếp khác nhau.
Như vậy câu hỏi "Nhật Nguyệt có cùng sáng không" thực ra chỉ phụ thuộc vào một biến số: Thái Dương đứng ở đâu, tức là Tử Vi đứng ở đâu. Khi Tử Vi ở các cung từ Tỵ đến Dậu, Thái Dương rơi vào nửa ngày. Phần còn lại của điều kiện là cung Mệnh có nhìn thấy được cả hai sao hay không.
Năm cặp vị trí cùng sáng và cung Mệnh nhận được cả hai
Bảng lập từ quy tắc an sao. Cột cuối ghi những cung có cả Thái Dương lẫn Thái Âm nằm trong tam phương tứ chính:
| Thái Dương | Thái Âm | Quan hệ hai cung | Cung Mệnh nhận đủ hai sao |
|---|---|---|---|
| Dần (cùng Cự Môn) | Tý (cùng Thiên Đồng) | Cách nhau hai cung | Ngọ, Thân |
| Mão (cùng Thiên Lương) | Hợi (độc toạ) | Tam hợp | Mùi, Mão, Hợi |
| Thìn (độc toạ) | Tuất (độc toạ) | Đối nhau | Thìn, Tuất |
| Tỵ (độc toạ) | Dậu (độc toạ) | Tam hợp | Sửu, Tỵ, Dậu |
| Ngọ (độc toạ) | Thân (cùng Thiên Cơ) | Cách nhau hai cung | Dần, Tý |
Khi hai sao cách nhau hai cung, Mệnh chỉ nhận đủ được nếu một sao nằm ở góc tam hợp và sao kia ở cung xung chiếu. Khi hai sao tam hợp, ba cung của tam hợp đều nhận đủ; khi đối nhau, chỉ hai cung chứa chính chúng. Cặp Mão–Hợi với Mệnh ở Mùi trùng với một cách có tên riêng là Minh châu xuất hải, có bài riêng. Bảng xếp Dần là ngày và Thân là đêm theo cách chia đơn giản; một số bảng coi Thái Dương ở Dần mới hừng đông, Thái Âm ở Thân mới chạng vạng, sáng chưa đủ.
Lời sách các phái và chỗ chưa thống nhất
Tên "Nhật Nguyệt tịnh minh" xuất hiện trong danh sách cách cục của nhiều sách đẩu số, nhưng định nghĩa không giống hệt nhau. Có bản chỉ nhận trường hợp Mệnh ở Sửu với Thái Dương ở Tỵ, Thái Âm ở Dậu; có bản nhận rộng hơn, miễn hai sao đều miếu vượng và cùng hội về Mệnh. Có bản còn đòi Mệnh phải có chính tinh tốt toạ thủ, hoặc ngược lại xem trường hợp Mệnh vô chính diệu được hai sao soi là đẹp nhất.
Lời luận chung của các bản là người được Nhật Nguyệt cùng sáng chiếu thì sáng sủa, rõ ràng, thông minh, có danh tiếng, được người trên nâng đỡ. Thái Dương tượng trưng cho danh, cho sự toả ra bên ngoài; Thái Âm tượng trưng cho của, cho sự tích luỹ bên trong. Cả hai cùng sáng được đọc là danh và thực cân xứng.
Cần nói thêm: bảng miếu hãm của Thái Dương và Thái Âm giữa các phái chênh nhau ở mấy cung giáp ranh như Dần, Thân, Sửu, Mùi. Vì thế cùng một lá số, sách này gọi tịnh minh, sách kia chỉ coi là "khá". Người tự học nên ghi rõ mình theo bảng nào thay vì tranh luận ai đúng; các bảng này là quy ước truyền lại, không đo được bằng thực nghiệm.
Những gì làm Nhật Nguyệt tịnh minh kém đi
Hoá Kỵ vào một trong hai sao. Tuổi Giáp có Thái Dương hoá Kỵ, tuổi Ất có Thái Âm hoá Kỵ; tuổi Canh có bản chép Thái Âm hoá Kỵ. Sách ví như mây che: sao vẫn sáng nhưng có phần bị khuất, danh hoặc của gặp trắc trở.
Tuần, Triệt án ngữ. Một sao sáng gặp Tuần Triệt bị coi là giảm sáng. Riêng với sao hãm thì có phái nói Tuần Triệt lại đỡ, vì "tối gặp chặn thành bớt tối". Đây là chỗ các phái luận ngược nhau.
Sát tinh đồng cung. Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh đi cùng Thái Dương hay Thái Âm làm ánh sáng thành gắt hoặc mờ. Sách thường luận người vẫn có tài nhưng nhiều va chạm, tiếng tăm đi kèm áp lực.
Mệnh ở xa hai sao. Cách chỉ thành khi Mệnh thực sự nhận được cả hai qua tam phương tứ chính. Nhiều người thấy Nhật Nguyệt trên lá số đều sáng là vội nhận mình có cách, trong khi Mệnh không nằm ở cung nào trong cột cuối của bảng.
Thái Dương trên lá số không phải mặt trời thật
Một điều người mới học hay ngộ nhận: vị trí Thái Dương trên lá số không phải vị trí mặt trời trên bầu trời lúc mình chào đời. Trong đẩu số, Thái Dương được an theo Tử Vi, mà Tử Vi lại an theo ngày sinh âm lịch và cục số. Hai người sinh cùng một giờ, cùng một ngày dương lịch nhưng khác năm có thể có Thái Dương ở hai cung khác hẳn nhau. Thái Âm cũng vậy, không phải tuần trăng thật.
Hệ sao của đẩu số là một hệ quy ước. Bảy sao Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân mang tên bảy sao chòm Bắc Đẩu theo cách gọi xưa; nhóm Thiên Phủ, Thiên Lương, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thất Sát được xếp vào Nam Đẩu; Thái Dương, Thái Âm mượn tên mặt trời, mặt trăng. Nhưng vị trí của tất cả đều do công thức định ra, không do quan sát thiên văn.
Biết điều này giúp đọc cách Nhật Nguyệt tịnh minh đúng tầm. "Sáng" và "tối" là quy ước dựa trên hình ảnh mười hai canh giờ của một ngày: cung Ngọ ứng với giữa trưa, cung Tý ứng với nửa đêm. Ẩn dụ ấy đẹp và dễ nhớ, nhưng nó là ẩn dụ, không phải bằng chứng rằng người sinh lúc nào sẽ sáng sủa hơn ai.
Phân biệt với Nhật Nguyệt đồng cung và Nhật Nguyệt giáp Mệnh
Do hai sao đối xứng qua trục Sửu–Mùi, có hai bố cục khác hay bị nhầm với tịnh minh. Nhật Nguyệt đồng cung chỉ xảy ra ở Sửu hoặc Mùi, ngay trên trục; ở đó một sao vừa qua thời sáng, sao kia chưa tới, sách thường luận "sáng tối lẫn nhau", người có hai mặt tính cách rõ.
Nhật Nguyệt giáp Mệnh là khi hai sao đứng ở hai cung sát hai bên Mệnh. Vì đối xứng qua trục Sửu–Mùi, cung bị kẹp giữa chỉ có thể là Sửu hoặc Mùi. Trường hợp cả hai cùng sáng là Thái Dương ở Dần, Thái Âm ở Tý kẹp Mệnh ở Sửu (lúc đó Sửu có Vũ Khúc và Tham Lang), hoặc Thái Dương ở Ngọ, Thái Âm ở Thân kẹp Mệnh ở Mùi (lúc đó Mùi có Thiên Phủ). Sách coi giáp Nhật Nguyệt sáng là được nâng đỡ từ hai bên.
Ba bố cục này đều nói về quan hệ giữa Mệnh với hai nguồn sáng, nhưng khác nhau ở chỗ sáng chiếu từ xa (tịnh minh), ngồi chung một nhà (đồng cung) hay kề sát hai bên (giáp). Đọc câu phú nào cũng nên xác định nó đang nói về bố cục nào trước khi áp vào lá số.
Đọc thử một lá số giả định
Giả định một lá số có Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung ở Thân. Theo phép an sao, Thái Dương ở Tỵ, Thái Âm ở Dậu, cung Sửu có Thiên Lương. Nếu Mệnh ở Sửu, tam hợp của Mệnh là Tỵ và Dậu, đúng chỗ hai sao sáng; cung đối diện là Mùi có Thiên Cơ. Đây là ví dụ kinh điển của tịnh minh: Mệnh có Thiên Lương, được Thái Dương sáng soi từ Tỵ và Thái Âm sáng soi từ Dậu.
Bước tiếp theo là xem can năm. Nếu người này sinh năm can Giáp, Thái Dương ở Tỵ hoá Kỵ, cách bị tổn một phần; nếu sinh năm can Canh, Thái Dương hoá Lộc, sách coi là thêm sáng; nếu sinh năm can Tân, Thái Dương hoá Quyền. Rồi xem có Kình Đà, Hoả Linh, Tuần Triệt rơi vào ba cung Sửu, Tỵ, Dậu không.
Đọc xong, người ta có một mô tả: thiên hướng làm việc rõ ràng, có cả phần hướng ngoại lẫn phần tích luỹ, có sao che chở ở Mệnh. Mô tả đó không nói người này sẽ làm nghề gì, giàu đến đâu. Nó chỉ gợi để tự soi xem mình có cân bằng được giữa việc được nhìn thấy và việc giữ gìn hay không.
Nhật Nguyệt trong hệ biểu tượng và giới hạn của cách cục
Thái Dương và Thái Âm là hai sao gần với kinh nghiệm hằng ngày nhất của người xưa, nên hệ biểu tượng của chúng rất giàu: cha và mẹ, chồng và vợ, danh và lợi, ngày và đêm, toả và thu. Cách Nhật Nguyệt tịnh minh vì thế dễ được kể như một hình ảnh đẹp, một đời sáng cả trong lẫn ngoài.
Nhưng các sách cổ cũng hay nối Nhật Nguyệt với sức khoẻ của mắt hay số phận của cha mẹ. Những liên tưởng này không có cơ sở để áp vào đời thật; trang này không đọc bệnh hay chuyện gia đình từ vị trí Thái Dương, Thái Âm.
Lá số là một hệ ký hiệu mà người xưa dùng để kể chuyện về con người. Cách Nhật Nguyệt tịnh minh có thể là một lời nhắc dễ thương về sự cân bằng giữa đời sống bên ngoài và bên trong, nhưng nó không bảo đảm danh tiếng, càng không thay được những cố gắng và lựa chọn thật của mỗi người.
Câu hỏi thường gặp
Có lá số nào Thái Dương sáng mà Thái Âm tối không?
Theo quy tắc an sao thì không, vì hai sao luôn đối xứng qua trục Sửu–Mùi, trục này chia đúng nửa ngày và nửa đêm. Chỉ ở các cung giáp ranh như Dần, Thân, khi bảng miếu hãm của từng phái xếp khác nhau, mới có trường hợp một sao được coi là sáng vừa còn sao kia sáng rõ.
Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu, Mùi có phải tịnh minh không?
Không. Khi đồng cung ở Sửu hay Mùi, cả hai sao đều ở cung giáp ranh ngày đêm, sách thường luận là một sao sáng thì sao kia mờ, gọi là cách Nhật Nguyệt đồng cung với lời luận riêng. Tịnh minh đòi cả hai cùng sáng ở hai cung khác nhau.
Vì sao cùng một lá số mà sách này nói tịnh minh, sách kia nói không?
Vì bảng miếu hãm và định nghĩa cách khác nhau giữa các phái. Có bản chỉ nhận vài vị trí cụ thể, có bản nhận mọi vị trí hai sao cùng sáng và cùng chiếu Mệnh. Đây là dị bản truyền lại, không có cách nào phân xử bằng thực nghiệm.
Mệnh vô chính diệu được Nhật Nguyệt chiếu thì sao?
Nhiều sách coi đây là trường hợp đẹp, vì Mệnh trống như tấm gương để ánh sáng hai sao soi vào. Cách Minh châu xuất hải (Mệnh ở Mùi vô chính diệu, Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi) chính là một trường hợp như vậy.
Tuổi Giáp có Thái Dương hoá Kỵ thì mất cách sao?
Phần lớn sách nói cách bị tổn chứ không mất hẳn. Hình ảnh hay dùng là mặt trời bị mây che một phần. Đọc theo hôm nay, đó là chỗ nên kiên nhẫn hơn với chuyện danh tiếng, giấy tờ, chứ không phải lời báo trước điều xấu.
Vị trí Thái Dương, Thái Âm có nói gì về cha mẹ không?
Sách cổ có liên tưởng Thái Dương với cha, Thái Âm với mẹ, nhưng đây là hệ biểu tượng của một thời. Không nên dùng vị trí sao để đoán chuyện sức khoẻ hay tuổi thọ của cha mẹ; những chuyện đó cần thông tin y tế và quan tâm thật.