Tham Vũ đồng hành là cách có Vũ Khúc và Tham Lang cùng đóng một cung. Theo phép an sao, hai sao chỉ đồng cung ở Sửu hoặc Mùi, khi Tử Vi ở Tỵ hoặc Hợi; Mệnh có Vũ Tham ở Sửu, Mùi là dạng chuẩn của cách.
Câu phú gắn liền với cách này là "Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân", tức người Tham Vũ không phát ở tuổi trẻ, thường được các bản giải diễn thành phát muộn, thành đạt về sau. Bài này lập bố cục cụ thể, giải nghĩa câu phú trong bối cảnh xưa, xét lần lượt các can năm và những yếu tố mà sách coi là làm cách đổi sắc thái.
Bố cục cố định: một tam hợp chứa cả sáu sao mạnh
Vũ Khúc đứng sau Tử Vi bốn cung theo chiều nghịch, Tham Lang đứng sau Thiên Phủ hai cung theo chiều thuận. Tính ra, hai sao trùng nhau khi Tử Vi ở Tỵ (Vũ Tham ở Sửu) hoặc ở Hợi (Vũ Tham ở Mùi). Với Vũ Tham ở Sửu, tam hợp là Tỵ có Tử Vi và Thất Sát, Dậu có Liêm Trinh và Phá Quân; cung đối diện là Mùi không có chính tinh. Với Vũ Tham ở Mùi, tam hợp là Hợi (Tử Sát) và Mão (Liêm Phá), đối diện Sửu trống.
Như vậy Mệnh Tham Vũ đồng hành gom trong một tam hợp đủ sáu sao: ba sao nhóm Tử Vi là Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, và ba sao Sát Phá Tham, mỗi sao một cặp. Đây là điều chỉ xảy ra khi Tử Vi ở cung âm: khi đó tam hợp của Tử Vũ Liêm trùng với tam hợp của Sát Phá Tham.
Cung đối diện trống cũng là chi tiết đáng chú ý. Không có chính tinh xung chiếu, sắc thái của Mệnh hầu như do tam hợp quyết định. Các sách vì thế hay luận cách Tham Vũ đồng hành là bố cục "mạnh và tập trung": nhiều năng lượng hành động, ít yếu tố hoà hoãn từ phía trước mặt.
"Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân" nói gì
Nghĩa từng chữ: bất phát là không phát đạt, thiếu niên nhân là người tuổi trẻ. Câu phú nói người có cách Tham Vũ không thành đạt sớm. Các bản giải thường thêm rằng sau tuổi ba mươi mới khá lên, có bản nói "trước nghèo sau giàu".
Lý giải theo hình tượng sao: Vũ Khúc là tài tinh, cứng, quyết đoán, ít khéo léo; Tham Lang là sao của ham muốn, giao du, hưởng thụ, đa tài. Khi còn trẻ, hai khuynh hướng này giằng co: một bên muốn tích luỹ, một bên muốn trải nghiệm. Sách cho rằng phải qua một thời gian va vấp, người ta mới hoà được hai mặt, lúc ấy sự quyết đoán của Vũ Khúc và khả năng giao tiếp của Tham Lang cùng làm việc cho một mục tiêu.
Đọc hôm nay, ý "phát muộn" có thể hiểu như một lời nhận xét về con đường tích luỹ: kinh nghiệm, vốn liếng, quan hệ cần thời gian. Nó không có nghĩa người trẻ có cách này sẽ thất bại, cũng không hẹn ngày thành công ở một tuổi cụ thể. Con số "ba mươi" là cách nói của sách, trong xã hội mà người ta lập gia đình, ra làm việc sớm hơn bây giờ nhiều.
Can năm sinh và những gì rơi vào bố cục
Bảng ghi tứ hoá theo can rơi vào sáu sao của tam hợp, cùng Kình Dương, Đà La với hai vị trí Mệnh, theo bảng an sao thông dụng. Lộc Tồn không bao giờ an ở Sửu, Mùi nên không có tuổi nào Lộc Tồn toạ thủ:
| Can năm | Tứ hoá vào tam hợp | Mệnh ở Sửu | Mệnh ở Mùi |
|---|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh hoá Lộc, Phá Quân hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Khoa | Đà La tại Mệnh | Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu xung chiếu |
| Ất | Tử Vi hoá Khoa | Không | Lộc Tồn ở Mão |
| Bính | Liêm Trinh hoá Kỵ | Lộc Tồn ở Tỵ | Không |
| Mậu | Tham Lang hoá Lộc | Lộc Tồn ở Tỵ | Không |
| Đinh, Kỷ | Kỷ: Vũ Khúc hoá Lộc, Tham Lang hoá Quyền; Đinh: không | Kình Dương ở Mùi xung chiếu, Đà La ở Tỵ | Kình Dương tại Mệnh |
| Canh | Vũ Khúc hoá Quyền | Kình Dương ở Dậu, Đà La ở Mùi xung chiếu | Đà La tại Mệnh |
| Tân | Không | Lộc Tồn ở Dậu | Không |
| Nhâm | Tử Vi hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Kỵ | Không | Lộc Tồn ở Hợi |
| Quý | Phá Quân hoá Lộc, Tham Lang hoá Kỵ | Kình Dương tại Mệnh | Kình Dương ở Sửu xung chiếu, Đà La ở Hợi |
Hai dòng đáng chú ý: tuổi Kỷ có Vũ Khúc hoá Lộc và Tham Lang hoá Quyền ngay trên hai sao của cách; tuổi Giáp có đủ Lộc, Quyền, Khoa rơi vào tam hợp, tức một dạng Tam kỳ gia hội, nhưng với Mệnh ở Sửu lại có Đà La toạ thủ. Ngược lại tuổi Nhâm có Vũ Khúc hoá Kỵ, tuổi Quý có Tham Lang hoá Kỵ, sách coi là phần tài lộc hoặc ham muốn gặp trắc trở.
Hoả Tinh, Linh Tinh và cách "phát nhanh"
Hoả Tham, Linh Tham. Tham Lang gặp Hoả Tinh hay Linh Tinh đồng cung được nhiều sách gọi tên cách riêng, chủ về phát nhanh, bất ngờ. Với Tham Vũ đồng hành, có Hoả hoặc Linh đi kèm được luận là làm câu "không phát thiếu niên" nhẹ đi, có khi phát sớm hơn lời sách chung.
Hoả Linh an theo chi năm và giờ. Hai sao này khởi theo nhóm tam hợp của chi năm sinh rồi đếm theo giờ sinh, nên chỉ một phần nhỏ lá số có Hoả hoặc Linh đúng tại cung Vũ Tham. Không có giờ sinh chính xác thì không kiểm được.
Mặt trái của "phát nhanh". Chính các sách cũng nói phát nhanh thì dễ đi nhanh, Hoả Linh vốn là sát tinh nóng. Lời luận cổ hay đi kèm câu nhắc giữ được mới quý.
Không nên đọc thành lời hứa. Mọi lời về phát sớm phát muộn chỉ là cách sách mô tả nhịp điệu theo hình tượng sao. Không có cơ sở nào để một người dựa vào đó mà vay mượn, đầu tư hay chờ đợi một thời điểm.
Những gì sách coi là làm cách tổn
Ngoài các trường hợp theo can năm trong bảng, các sách còn hay liệt kê:
- Địa Không, Địa Kiếp đồng cung. Tài tinh gặp Không Kiếp bị luận là của đến rồi đi, tích luỹ khó bền.
- Tuần, Triệt án ngữ tại Sửu hoặc Mùi. Có phái nói chậm thêm, có phái nói làm dịu tính ham muốn của Tham Lang. Lại là chỗ dị biệt.
- Liêm Phá ở tam hợp bị Hoá Kỵ. Tuổi Bính có Liêm Trinh hoá Kỵ ở góc tam hợp, sách nhắc chuyện giấy tờ, danh dự.
- Đào hoa tinh hội nhiều. Tham Lang vốn là sao đào hoa; gặp thêm Hàm Trì, Thiên Diêu, sách xưa luận nặng về ham vui. Lời luận này mang định kiến đạo đức của thời đó, nên đọc như tư liệu.
- Đặt sai cung đối diện. Nhiều người quên rằng cung đối diện Vũ Tham luôn trống, rồi gán cho nó sao của cung khác; kiểm lại lá số trước khi luận.
Phân biệt Tham Vũ đồng hành với Vũ Khúc, Tham Lang đối nhau
Một số tài liệu còn tính trường hợp Vũ Khúc và Tham Lang đứng đối nhau ở Thìn, Tuất, tức Tử Vi ở Dần hoặc Thân, Vũ Khúc ở Tuất hay Thìn, Tham Lang ở cung đối diện. Bố cục này khác hẳn: Mệnh có Vũ Khúc độc toạ, tam hợp là Tử Phủ và Liêm Tướng, thuộc cách Tử Phủ Vũ Tướng, chỉ nhận Tham Lang qua xung chiếu.
Vì vậy khi đọc câu "Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân", nên xác định tài liệu đang dùng định nghĩa nào. Định nghĩa chặt chỉ nhận đồng cung ở Sửu, Mùi; định nghĩa rộng nhận cả đối nhau ở Thìn, Tuất. Áp nhầm lời của bố cục này sang bố cục kia là lỗi phổ biến của người tự học.
Cũng nên phân biệt với tên gọi nghe gần là "Vũ Tham" trong lời luận vận hạn: khi đại vận đi qua cung có Vũ Tham, sách cũng hay nhắc câu phú trên. Đó là chuyện của vận, thuộc phần đọc vận hạn, không phải cách cục của cung Mệnh.
Đọc thử lá số giả định tuổi Kỷ, Mệnh Vũ Tham ở Mùi
Để thấy các lớp chồng lên nhau, đọc thử một lá số giả định theo từng bước:
- Xác định bố cục: Tử Vi ở Hợi, Mệnh ở Mùi có Vũ Khúc và Tham Lang; tam hợp Hợi (Tử Vi, Thất Sát) và Mão (Liêm Trinh, Phá Quân); đối diện Sửu không chính tinh.
- Xét tứ hoá can Kỷ: Vũ Khúc hoá Lộc và Tham Lang hoá Quyền cùng tại Mệnh; Thiên Lương hoá Khoa ở Tuất nằm ngoài tam phương; Văn Khúc hoá Kỵ theo giờ, cần biết giờ sinh mới xác định.
- Xét sao an theo can Kỷ: Lộc Tồn ở Ngọ, nằm ngoài tam phương; Kình Dương ở Mùi, tức ngay tại Mệnh; Đà La ở Tỵ, cũng ngoài.
- Ghi các sao theo giờ cần kiểm thêm: Hoả Tinh, Linh Tinh (nếu có ở Mùi thì thành Hoả Tham hoặc Linh Tham), Địa Không, Địa Kiếp, Văn Xương, Văn Khúc.
- Viết thành mô tả: bố cục Tham Vũ đồng hành có Lộc Quyền đồng cung tại Mệnh, đi kèm Kình Dương toạ thủ; tam hợp mạnh với Tử Sát và Liêm Phá; phía trước mặt trống.
Theo lối luận của sách xưa, Lộc Quyền đi cùng Kình Dương thường được hiểu là được mà phải tranh. Người đọc hôm nay có thể chuyển thành câu hỏi: mình đạt được điều mình muốn bằng cách nào, có cách nào ít va chạm hơn không. Bài đọc dừng ở đó, không suy ra thu nhập, năm phát đạt hay biến cố.
Đọc cách này cho người hôm nay
Bỏ đi lớp lời hứa giàu sang và lời doạ ham vui, cách Tham Vũ đồng hành còn lại một mô tả khá gần với nhiều người: cứng rắn trong chuyện tiền bạc, đồng thời ham trải nghiệm, nhiều mối quan tâm; cần thời gian để hai mặt ấy tìm được một hướng chung.
Một câu hỏi hữu ích để tự soi: mình đang để phần muốn tích luỹ hay phần muốn trải nghiệm dẫn đường, và mình có kiên nhẫn với con đường dài không? Câu hỏi ấy có giá trị với bất kỳ ai, có cách hay không.
Lá số là hệ biểu tượng của văn hoá phương Đông, dùng hình tượng sao để kể chuyện về tính cách và nhịp đời. Nó không có thẩm quyền nói một người sẽ giàu ở tuổi nào. Quyết định nghề nghiệp, tiền bạc, đầu tư cần dựa vào thông tin, kế hoạch và hiểu biết thật về rủi ro.
Câu hỏi thường gặp
Vũ Khúc và Tham Lang có thể đồng cung ở Thìn, Tuất không?
Không. Theo phép an sao, hai sao chỉ trùng nhau ở Sửu hoặc Mùi. Ở Thìn, Tuất chúng đứng đối nhau, khi Tử Vi ở Dần hoặc Thân. Một số tài liệu gộp cả trường hợp đối nhau vào tên Tham Vũ, nhưng bố cục và lời luận khác hẳn.
Vì sao cung đối diện Vũ Tham luôn trống?
Khi Vũ Tham ở Sửu thì Tử Vi ở Tỵ, và cung Mùi không có chính tinh nào được an tới; khi Vũ Tham ở Mùi thì Tử Vi ở Hợi, cung Sửu trống. Đây là hệ quả cố định của công thức an mười bốn chính tinh.
Câu "bất phát thiếu niên" có nghĩa là trước ba mươi tuổi sẽ khó khăn?
Đó là cách các bản giải diễn câu phú, không phải lời đoán đáng tin cho một người cụ thể. Ý chính của sách là con đường tích luỹ cần thời gian. Hoàn cảnh, học vấn, nỗ lực mới là yếu tố quyết định ai thành đạt lúc nào.
Tuổi Kỷ có cách này thì được sách khen thế nào?
Tuổi Kỷ có Vũ Khúc hoá Lộc và Tham Lang hoá Quyền ngay trên hai sao của cách, sách coi là Lộc Quyền đồng cung, rất thuận. Nhưng với Mệnh ở Mùi, tuổi Kỷ có Kình Dương toạ thủ; với Mệnh ở Sửu, Kình Dương xung chiếu. Cần đọc cả hai mặt.
Tham Vũ đồng hành có liên quan đến Sát Phá Tham không?
Có. Tam hợp của Mệnh Vũ Tham chứa đủ Thất Sát (cùng Tử Vi) và Phá Quân (cùng Liêm Trinh), nên đây là một dạng bố cục Sát Phá Tham có Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh đi kèm từng sao. Đó là lý do cách thường được luận là mạnh và nhiều hành động.
Có nên dựa vào cách này để quyết định kinh doanh?
Không. Cách cục là mô tả cấu trúc lá số theo sách cổ, mang tính văn hoá và tham khảo. Quyết định kinh doanh cần dựa vào nghiên cứu thị trường, vốn, kỹ năng và quản lý rủi ro; không lá số nào thay được những điều đó.