Cách Tử Phủ Vũ Tướng là tên sách xưa đặt cho lá số có bốn chính tinh Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc và Thiên Tướng cùng hội về cung Mệnh qua tam phương tứ chính. Theo cách an sao, bốn sao này chỉ gom đủ vào một tam hợp khi Tử Vi đóng ở một trong sáu cung dương: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.
Các phái coi đây là bộ khung "tổ chức": người có Mệnh thuộc cách này được mô tả là ưa trật tự, chịu được trách nhiệm, hợp với việc quản lý của cải hay con người. Nhưng sách cũng liệt kê rất kỹ những trường hợp cách bị phá, và một cách cục chỉ là kiểu cấu trúc của lá số, không phải tấm vé bảo đảm. Bài này đi qua điều kiện thành cách, bốn kiểu bố trí cụ thể, những gì làm cách hỏng và cách đọc cho cân bằng.
Bốn sao trong cách và vì sao chúng hay đi cùng nhau
Trong mười bốn chính tinh, Tử Vi được ví là vua, Thiên Phủ là kho tàng và người giữ kho, Vũ Khúc là tài tinh gắn với tiền bạc và sự quyết đoán, Thiên Tướng là ấn tín, người thừa hành có nguyên tắc. Gộp bốn hình ảnh ấy lại, người xưa thấy một bộ máy hoàn chỉnh: có người đứng đầu, có ngân khố, có người lo tài chính, có người giữ phép tắc. Vì thế cách được đọc như một cấu trúc thiên về quản trị và ổn định, trái ngược với tinh thần xông pha của bộ Sát Phá Tham.
Điều ít người để ý là bốn sao này không đến với nhau do may rủi. Theo phép an sao, Vũ Khúc luôn đứng cách Tử Vi bốn cung theo chiều nghịch, nên Tử Vi và Vũ Khúc bao giờ cũng nằm trong cùng một tam hợp. Thiên Tướng luôn đứng cách Thiên Phủ bốn cung theo chiều thuận, nên Thiên Phủ và Thiên Tướng cũng luôn cùng một tam hợp. Câu hỏi thành cách hay không chỉ còn là hai tam hợp đó có trùng nhau hay không.
Thiên Phủ an đối xứng với Tử Vi qua trục Dần–Thân. Khi Tử Vi ở cung dương, Thiên Phủ cũng rơi vào cung dương cùng nhóm tam hợp, và bốn sao gom về một chỗ. Khi Tử Vi ở cung âm, hai cặp tách ra, mỗi cặp một nơi, cách không thể đủ. Đây là điều kiện cứng, kiểm được ngay trên lá số mà không cần nhớ câu phú nào.
Bốn kiểu bố trí khi Tử Vi ở cung dương
Vì hai cung đối xứng cho kết quả giống nhau, sáu vị trí của Tử Vi thu về bốn kiểu. Bảng dưới lấy cung có Tử Vi làm chuẩn và ghi sao ở ba cung còn lại của tam phương tứ chính (cung xung chiếu là cung đối diện):
| Tử Vi đóng ở | Hai cung tam hợp | Cung xung chiếu | Nhận xét |
|---|---|---|---|
| Tý (hoặc Ngọ) | Liêm Trinh–Thiên Phủ; Vũ Khúc–Thiên Tướng | Tham Lang | Tử Vi độc toạ, hai cặp đồng cung ở hai góc tam hợp |
| Dần (hoặc Thân) | Liêm Trinh–Thiên Tướng; Vũ Khúc | Thất Sát | Tử Phủ đồng cung ngay tại Mệnh, có bài riêng |
| Thìn (hoặc Tuất) | Vũ Khúc–Thiên Phủ; Liêm Trinh | Phá Quân | Tử Vi đi cùng Thiên Tướng tại Mệnh |
| Mệnh ở góc tam hợp | Như ba dòng trên, đổi vai | Một sao của bộ Sát Phá Tham | Mệnh có Vũ Tướng hay Liêm Phủ vẫn tính là trong cách |
Nhìn cột xung chiếu sẽ thấy một quy luật: cung đối diện luôn là một sao của bộ Sát Phá Tham. Lý do là ba sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang cũng luôn cùng một tam hợp, và khi Tử Vi ở cung dương thì tam hợp ấy nằm đúng phía đối diện. Nói cách khác, lá số mang cách Tử Phủ Vũ Tướng bao giờ cũng "nhìn thấy" bộ sao hành động ở phía trước mặt. Nhiều người luận bỏ qua điểm này, trong khi chính nó giải thích vì sao người thuộc cách vẫn có lúc quyết liệt, đổi hướng mạnh tay.
Sách xưa luận gì và nên đọc lại thế nào
Các bản sách đẩu số đời Minh–Thanh thường xếp Tử Phủ Vũ Tướng vào nhóm cách chủ về giàu sang, gắn với hình ảnh người làm quan, giữ kho, cai quản một vùng. Lời sách ra đời trong xã hội mà con đường thăng tiến gần như chỉ có khoa cử và quan trường, nên "quý" được hiểu là chức tước, "phú" là ruộng đất và kho lẫm.
Đọc lại hôm nay, phần đáng giữ là mô tả về khuynh hướng: thích có hệ thống, quen nghĩ theo vai trò và quy trình, coi trọng uy tín, chịu ngồi vào chỗ phải gánh trách nhiệm. Những phẩm chất này hợp với công việc quản lý, tài chính, hành chính, điều phối, nhưng cũng có thể hiện ra ở một người nội trợ giữ nếp nhà hay một thợ cả điều hành tổ thợ. Phần nên bỏ là lời hứa hẹn về địa vị: không có cấu trúc lá số nào bảo đảm ai được làm sếp hay giàu lên.
Mặt trái mà chính các phái cũng nói tới: bộ khung thiên về giữ gìn nên dễ bảo thủ, nặng thể diện, ngại thay đổi khi hoàn cảnh đã khác. Người thuộc cách khi gặp môi trường thiếu trật tự có thể thấy bức bối hơn người khác. Đọc hai mặt như vậy mới đúng tinh thần một cách cục: nó tả thiên hướng, không chấm điểm con người.
Những trường hợp các phái coi là phá cách
Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp nhập Mệnh hoặc hội mạnh. Sát tinh được xem là làm "kho thủng", bộ máy có người đứng đầu nhưng nhiều sức ép và hao tổn. Nên nhớ Kình Đà luôn giáp Lộc Tồn, nên tuổi có Lộc Tồn đóng ngay cung Mệnh thì Mệnh bị Kình Đà kẹp hai bên; sách gọi là được Lộc mà cũng bị giáp.
Vũ Khúc hoá Kỵ. Người sinh năm can Nhâm có Vũ Khúc hoá Kỵ (điểm này các phái thống nhất). Tài tinh của cách bị Kỵ nên nhiều sách luận phần tiền bạc trắc trở, quyết định tài chính dễ vướng. Hiểu theo hôm nay là chỗ cần cẩn trọng hơn, không phải định mệnh mất tiền.
Tuần hoặc Triệt án ngữ tại Mệnh. Tuần Triệt được xem như bức tường chặn bớt lực của sao. Có phái cho rằng gặp Tuần Triệt thì cách giảm hẳn, có phái lại nói chỉ chậm phát. Đây là chỗ dị biệt lớn, người đọc nên ghi nhận cả hai ý.
Thiên Phủ gặp Không Kiếp, gọi là "kho trống". Thiên Phủ chủ tích trữ; đi với Địa Không, Địa Kiếp thì hình ảnh là kho rỗng, có danh mà thiếu thực. Một số sách luận nặng ở điểm này hơn cả Hoá Kỵ.
Tử Vi thiếu phụ tá. Tử Vi không gặp Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt bị gọi là "cô quân", vua mà không có quần thần. Cách vẫn có hình nhưng thiếu người đỡ, sách tả người phải tự gánh nhiều việc.
Kiểm cách Tử Phủ Vũ Tướng trên một lá số in sẵn
Không cần thuộc phú, chỉ cần lá số và năm bước sau:
- Tìm cung có sao Tử Vi. Nếu cung đó là Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi (cung âm), bốn sao không thể gom đủ; lá số không thuộc cách này dù Mệnh có Tử Vi.
- Nếu Tử Vi ở cung dương, xác định tam hợp chứa Tử Vi (Thân–Tý–Thìn hoặc Dần–Ngọ–Tuất). Bốn sao chắc chắn nằm trong tam hợp đó.
- Xem cung Mệnh có nằm trong tam hợp ấy không. Mệnh ở một trong ba cung là trong cách; Mệnh ở cung đối diện Tử Vi thì chỉ nhận một phần qua xung chiếu.
- Liệt kê sát tinh, Hoá Kỵ, Tuần Triệt rơi vào bốn cung tam phương tứ chính của Mệnh, ghi cung nào bị và bị bởi sao gì.
- Ghi cung xung chiếu (một sao của Sát Phá Tham) và đọc nó như mặt hành động của lá số, không bỏ qua.
Ví dụ giả định: lá số có Tử Vi ở Ngọ, Mệnh cũng ở Ngọ. Hai góc tam hợp là Dần (Vũ Khúc–Thiên Tướng) và Tuất (Liêm Trinh–Thiên Phủ), đối diện ở Tý là Tham Lang. Nếu người này sinh năm can Nhâm, Vũ Khúc tại Dần hoá Kỵ: cách vẫn thành hình nhưng phần tài chính là chỗ các sách bảo phải dè dặt. Đọc ra được như vậy là đủ để đặt câu hỏi cho chính mình, không cần đi đến lời phán.
Liêm Trinh: sao thứ năm luôn có mặt mà ít ai nhắc
Tên cách chỉ có bốn sao, nhưng nhìn lại bảng sẽ thấy trong mọi kiểu bố trí đều có Liêm Trinh đứng chung tam hợp. Lý do nằm ở phép an sao: Liêm Trinh cách Tử Vi bốn cung theo chiều thuận, Vũ Khúc cách bốn cung theo chiều nghịch, nên Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc luôn chia nhau ba góc của một tam hợp. Muốn có Tử Phủ Vũ Tướng thì không thể tránh Liêm Trinh.
Sách xưa gọi Liêm Trinh là "thứ đào hoa" và cũng là sao của pháp luật, kỷ cương, sự liêm khiết hay cứng nhắc. Trong cách Tử Phủ Vũ Tướng, Liêm Trinh khi đi với Thiên Phủ thì được coi là ổn, vì Thiên Phủ làm dịu tính cực đoan của nó; khi đi với Thiên Tướng thì thiên về giữ nguyên tắc, lời nói có trọng lượng. Khi Liêm Trinh hoá Kỵ (người sinh năm can Bính), nhiều sách luận phần danh dự, giấy tờ, quan hệ pháp lý là chỗ dễ vướng, và cách bị giảm sắc.
Vì vậy khi kiểm cách, người đọc nên đếm năm sao chứ không phải bốn. Bỏ quên Liêm Trinh là bỏ quên một biến số có thể làm cách đổi sắc thái rõ rệt, nhất là ở tuổi Giáp (Liêm Trinh hoá Lộc) và tuổi Bính (Liêm Trinh hoá Kỵ). Đây cũng là ví dụ cho thấy tên gọi cách cục chỉ nêu phần nổi bật nhất, còn cấu trúc thật của lá số thì luôn đầy đủ hơn tên gọi.
Đặt cách cục vào đúng chỗ của nó trong cả lá số
Một lá số có mười hai cung, hơn trăm sao, lại chồng thêm đại vận, tiểu hạn. Cách cục chỉ là một lớp mô tả cấu trúc của tam phương tứ chính cung Mệnh. Hai người cùng cách Tử Phủ Vũ Tướng có thể khác nhau rất xa nếu một người có Văn Xương, Văn Khúc, Tả Hữu đi kèm còn người kia có Không Kiếp, Hoá Kỵ; nếu cung Phúc Đức, Quan Lộc, Tài Bạch ở hai lá số trái ngược nhau. Vì vậy các thầy dạy đẩu số nghiêm túc thường dặn: xác định cách cục xong mới chỉ bắt đầu, chưa phải kết luận.
Cũng nên nhớ rằng giờ sinh lệch một canh là Mệnh dời sang cung khác, cả cách cục có thể đổi. Nhiều người dựa vào giờ sinh ước chừng mà tin chắc mình "có cách lớn" là đặt quá nhiều niềm tin vào một dữ kiện chưa chắc.
Lá số là một hệ biểu tượng do người xưa dựng ra để nói về tính cách và vận động của đời người bằng ngôn ngữ sao và cung. Nó gợi những câu hỏi đáng suy nghĩ về cách mình làm việc và giữ của, còn lựa chọn nghề nghiệp, tiền bạc hay hôn nhân thì phải dựa vào thông tin thật, năng lực thật và hoàn cảnh thật.
Câu hỏi thường gặp
Mệnh có Tử Vi ở cung Sửu có thuộc cách Tử Phủ Vũ Tướng không?
Không. Ở Sửu, Tử Vi đồng cung Phá Quân, còn Thiên Phủ nằm ở Mão, không cùng tam hợp với Tử Vi. Vũ Khúc vẫn ở tam hợp của Tử Vi nhưng Thiên Tướng thì theo Thiên Phủ sang nhóm khác, nên bốn sao không bao giờ gom đủ khi Tử Vi ở cung âm.
Mệnh có Vũ Khúc và Thiên Tướng đồng cung thì có tính là trong cách không?
Có, nếu Tử Vi ở cung dương và Mệnh là một góc của tam hợp đó. Ví dụ Tử Vi ở Ngọ thì Vũ Tướng ở Dần; Mệnh ở Dần nhìn về Ngọ có Tử Vi và Tuất có Liêm Phủ, đủ bốn sao. Cách không đòi Tử Vi phải nằm ngay tại Mệnh.
Tử Phủ Vũ Tướng và Sát Phá Tham có loại trừ nhau không?
Không loại trừ mà đi kèm. Khi Tử Vi ở cung dương, tam hợp của Sát Phá Tham luôn nằm đối diện tam hợp Tử Phủ Vũ Tướng, nên cung Mệnh trong cách luôn có một sao Sát, Phá hoặc Tham xung chiếu. Hai bộ là hai mặt của cùng một lá số.
Có cần Tả Phù, Hữu Bật mới thành cách không?
Định nghĩa gốc chỉ cần bốn chính tinh hội về. Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt là phần làm cách "đẹp" hơn theo lời sách, thiếu chúng thì Tử Vi bị gọi là cô quân, nhưng cách vẫn được gọi tên. Đây là chuyện mức độ, không phải điều kiện bắt buộc.
Tuổi Nhâm có Vũ Khúc hoá Kỵ thì cách hỏng hẳn sao?
Các sách luận Vũ Khúc hoá Kỵ làm tổn phần tài tinh, nhưng ít sách nói cách mất hẳn. Cách đọc hợp lý là phần tiền bạc cần cẩn thận, kế hoạch tài chính nên chặt chẽ hơn. Một sao hoá Kỵ không quyết định cả đời người, và lá số chỉ là tham khảo văn hoá.
Làm sao biết lá số in sẵn ghi đúng vị trí Tử Vi?
Có thể tự kiểm bằng cục số và ngày sinh âm lịch theo bảng an Tử Vi, rồi so với lá số. Lỗi hay gặp là nhập sai giờ sinh, nhầm ngày dương với ngày âm, hoặc tháng nhuận được tính khác nhau giữa các cách lập.