Câu phú có hình ảnh dễ nhớ nhất về tiền bạc trong sách đẩu số có lẽ là: Lộc Tồn thủ ư Điền Tài, đôi kim tích ngọc. Dịch sát: Lộc Tồn giữ ở cung Điền Trạch hay Tài Bạch thì vàng chất thành đống, ngọc chứa thành kho.
Câu phú nói về sao Lộc Tồn (sao an theo can năm, tượng của để dành) khi đóng ở cung Tài Bạch hoặc cung Điền Trạch. Sách coi đó là vị trí "đúng chỗ" của Lộc Tồn: sao giữ của ở cung tiền, cung nhà. Ý nghĩa cốt lõi là khả năng tích giữ, không phải làm giàu nhanh; và như mọi câu phú, nó chỉ thành khi không có sao phá. Bài giải từng chữ, lập bảng xem tuổi nào với Mệnh ở đâu thì có Lộc Tồn ở hai cung này, phân biệt Lộc Tồn với Hoá Lộc, và đọc lại lời "đôi kim tích ngọc".
Giải từng chữ
Lộc Tồn. "Lộc" là bổng lộc, của cải; "tồn" là còn, giữ lại. Lộc Tồn là của còn giữ được, khác với của đến rồi đi.
Thủ ư. "Thủ" là giữ, trấn giữ, cũng dùng theo nghĩa "toạ thủ" là đóng ở cung; "ư" là ở, tại. "Thủ ư Điền Tài" là đóng ở cung Điền Trạch, Tài Bạch.
Điền Tài. Viết gọn hai cung: Điền Trạch (ruộng vườn, nhà cửa, tài sản cố định) và Tài Bạch (tiền bạc, thu chi). Câu phú gộp hai cung vì cả hai đều thuộc phạm trù của cải.
Đôi kim tích ngọc. "Đôi" là chất đống, "kim" là vàng, "tích" là chứa góp, "ngọc" là ngọc. Hình ảnh thành ngữ cho sự giàu có tích luỹ lâu dài. Hai động từ "đôi" và "tích" đều nói về gom góp, không nói về kiếm nhanh.
Nguồn. Câu này thường được xếp vào Thái Vi phú. Các bản Việt chép khá thống nhất, chỉ khác ở chữ "thủ" có bản viết "cư" (ở).
Lộc Tồn đứng ở đâu và vì sao luôn có Kình Đà kèm
Lộc Tồn an theo can năm sinh: Giáp ở Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý. Như vậy Lộc Tồn không bao giờ đóng ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Kình Dương luôn ở ô kế sau theo chiều thuận, Đà La ở ô kế trước.
Hệ quả: khi Lộc Tồn ở Tài Bạch thì Kình Dương, Đà La rơi vào hai cung kẹp hai bên Tài Bạch là Tử Tức và Tật Ách. Khi Lộc Tồn ở Điền Trạch thì Kình Đà rơi vào Phúc Đức và Quan Lộc. Sách cổ có hình ảnh "Lộc bị Kình Đà giáp": của được giữ chặt, nhưng xung quanh có hai sao sắc canh giữ. Một số chú giải lấy chính hình ảnh này để giải thích vì sao Lộc Tồn là của "giữ" chứ không phải của "tiêu".
Với Lộc Tồn ở Điền Trạch, Kình Dương rơi vào Quan Lộc: sách hay tả người tích luỹ nhà cửa nhờ công việc vất vả, có cạnh tranh. Với Lộc Tồn ở Tài Bạch, Kình Đà kẹp ở Tử Tức và Tật Ách; một số bản cũ suy ra chuyện con cái, sức khoẻ, lối suy nên dừng lại vì đó là hệ quả hình học của phép an sao, không phải lời báo.
Tuổi nào, Mệnh ở đâu thì Lộc Tồn ở Tài Bạch hoặc Điền Trạch
Tài Bạch cách Mệnh tám cung theo chiều an cung, Điền Trạch cách ba cung. Từ vị trí Lộc Tồn suy ngược ra vị trí Mệnh:
| Can năm | Lộc Tồn ở | Mệnh ở đâu thì Lộc ở Tài Bạch | Mệnh ở đâu thì Lộc ở Điền Trạch |
|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Ngọ | Hợi |
| Ất | Mão | Mùi | Tý |
| Bính, Mậu | Tỵ | Dậu | Dần |
| Đinh, Kỷ | Ngọ | Tuất | Mão |
| Canh | Thân | Tý | Tỵ |
| Tân | Dậu | Sửu | Ngọ |
| Nhâm | Hợi | Mão | Thân |
| Quý | Tý | Thìn | Dậu |
Cung Mệnh do tháng và giờ sinh quyết định, nên với mỗi tuổi chỉ khoảng một phần mười hai số lá số có Lộc Tồn ở Tài Bạch, một phần mười hai khác có Lộc Tồn ở Điền Trạch. Đó là tỉ lệ khá cao, cho thấy câu phú mô tả một cấu trúc phổ biến chứ không hiếm.
Ví dụ giả định: tuổi Canh, Mệnh ở Tý. Tài Bạch ở Thân có Lộc Tồn; Kình Dương ở Dậu (Tử Tức), Đà La ở Mùi (Tật Ách). Nếu năm sinh có chi Dần, Ngọ hoặc Tuất thì Thiên Mã cũng ở Thân, thành Lộc Mã cùng ở Tài Bạch, một tổ hợp sách bàn riêng.
Lộc Tồn khác Hoá Lộc: "tồn" và "hoá"
Người mới học hay gộp Lộc Tồn với Hoá Lộc. Sách phân biệt khá rõ. Lộc Tồn là sao cố định theo can năm, tượng của để dành, sự ổn định, giữ được. Hoá Lộc là một trong bốn hoá, gắn lên một chính tinh hay phụ tinh tuỳ can năm, tượng dòng chảy, cơ hội, sự lưu thông. Một bên là cái kho, một bên là dòng nước chảy vào kho.
Vì vậy câu phú chọn Lộc Tồn chứ không chọn Hoá Lộc: "đôi kim tích ngọc" là hình ảnh của kho. Sách có những câu khác cho Hoá Lộc, thường nói về tài lộc đến qua giao dịch, công việc. Khi một lá số có cả Lộc Tồn ở Tài Bạch lẫn Hoá Lộc chiếu về, sách gọi là "song Lộc", hình mẫu được khen nhiều nhất về tiền bạc.
Ngược lại, Lộc Tồn đứng một mình không có sao tốt hỗ trợ, sách lại có lời chê nổi tiếng: người giữ của như canh giữ, tiếc tiêu, có bản gọi thẳng là "thủ tài nô", kẻ làm nô cho đồng tiền. Cùng một sao, khi được hỗ trợ thì thành kho đầy, khi đơn độc thì thành keo kiệt. Hai mặt này nên được đọc cùng nhau.
Ở Tài Bạch hay ở Điền Trạch: sách phân biệt thế nào
Câu phú gộp hai cung vào một vế, nhưng các chú giải thường tách ra. Lộc Tồn ở Tài Bạch được đọc là tiền mặt, thu nhập được giữ lại, người biết để dành từ đồng lương. Lộc Tồn ở Điền Trạch được đọc là tài sản cố định: nhà, đất, đồ đạc có giá trị, thứ tích luỹ chậm và khó tiêu tán. Hình ảnh "đôi kim" (chất vàng) hợp với Tài Bạch, "tích ngọc" (chứa ngọc) hợp với Điền Trạch, dù câu phú không chia như vậy.
Cũng có khác biệt về sao kẹp. Lộc Tồn ở Điền Trạch thì Kình Dương ở Quan Lộc, nên người đọc theo sách hay nói tài sản đến từ công việc có cạnh tranh. Lộc Tồn ở Tài Bạch thì Kình Dương rơi vào Tử Tức, một cung không liên quan trực tiếp đến tiền; sách ít bàn sâu chỗ này. Như vậy, nếu phải chọn, nhiều chú giải xếp Lộc Tồn ở Điền Trạch ổn định hơn.
Một chi tiết kỹ thuật: khi Lộc Tồn ở Tài Bạch, cung Mệnh nằm trong tam hợp với Tài Bạch, nên Lộc Tồn cũng chiếu về Mệnh. Khi Lộc Tồn ở Điền Trạch thì không, vì Điền Trạch không thuộc tam phương của Mệnh. Đây là lý do một số người coi Lộc ở Tài Bạch "gần người" hơn, còn Lộc ở Điền Trạch "gần nhà" hơn.
Khi nào câu phú bị phá
Lộc Tồn sợ nhất ba thứ: gặp Địa Không, Địa Kiếp (sao hao tán), gặp Tuần hoặc Triệt (không vong), và gặp Hoá Kỵ xung chiếu. Sách cổ có câu riêng cho trường hợp Lộc gặp xung phá, nói trong cái tốt có giấu cái xấu; câu ấy đã được giải ở một bài khác trong chuyên mục. Ở đây chỉ cần nhớ: Lộc Tồn ở Tài Bạch mà có Không Kiếp đóng cùng thì câu "đôi kim tích ngọc" không được áp.
Tuần Triệt là trường hợp hay gặp nhất. Ví dụ giả định: tuổi Quý, Lộc Tồn ở Tý, và Triệt của can Quý lại nằm ở Tý–Sửu. Mọi người tuổi Quý có Lộc Tồn bị Triệt. Nếu Mệnh ở Thìn, Lộc Tồn ở Tài Bạch nhưng bị Triệt; sách sẽ không dùng câu phú này, mà nói "của khó giữ, phải tự tạo". Tương tự với tuổi Bính, Lộc Tồn ở Tỵ trong Triệt Thìn–Tỵ.
Như vậy trong tám vị trí Lộc Tồn, có những tuổi mà câu phú gần như không bao giờ thành. Người đọc thấy lá số mình có Lộc Tồn ở Tài Bạch nên kiểm ngay Tuần Triệt và Không Kiếp quanh đó trước khi tìm đến lời khen.
Ví dụ giả định: Lộc Tồn ở Điền Trạch
Một lá số giả định tuổi Tân, Mệnh ở Ngọ. Điền Trạch ở Dậu có Lộc Tồn; Kình Dương ở Tuất (cung Quan Lộc), Đà La ở Thân (cung Phúc Đức). Nếu cung Dậu không vướng Tuần Triệt, không có Không Kiếp, người đọc theo sách sẽ nói: tích luỹ nhà cửa đều đặn, nhờ công việc có cạnh tranh mà vững, đời sống tinh thần hay lo xa.
Ba lời ấy lần lượt đến từ Lộc Tồn ở Điền Trạch, Kình Dương ở Quan Lộc và Đà La ở Phúc Đức. Người đọc có thể thấy rõ chúng là cách dịch vị trí sao thành lời, không phải điều gì bí ẩn. Đó cũng là lý do lời luận theo sách thường "đúng một phần" với nhiều người: nó mô tả những khuynh hướng mà ai cũng có ít nhiều.
Một điều quan trọng: không ai nên quyết định mua nhà, bán đất hay vay tiền vì Lộc Tồn ở Điền Trạch. Những quyết định ấy dựa vào thu nhập, lãi suất, nhu cầu thật. Lá số là một hệ biểu tượng để nói chuyện về khuynh hướng tích luỹ, không phải lời khuyên tài chính.
Câu phú còn hợp đời nay đến đâu
Phần đáng giữ: hình ảnh Lộc Tồn ở đúng chỗ nhắc rằng của cải bền vững thường đến từ sự giữ gìn, tích góp đều đặn hơn là từ những cú bứt phá. Đó là một lời khuyên tài chính cá nhân có giá trị ở mọi thời, và câu phú gói nó trong bốn chữ đẹp.
Phần nên đọc lại: "đôi kim tích ngọc" là ngôn ngữ phóng đại của văn phú, viết cho xã hội mà giàu có nghĩa là vàng bạc, ruộng đất. Hôm nay, tài sản đa dạng hơn và rủi ro cũng khác. Không có câu phú nào thay được việc lập ngân sách, dự phòng và tìm hiểu kỹ trước khi đặt tiền vào đâu.
Cuối cùng, mặt "thủ tài nô" của Lộc Tồn đơn độc cũng đáng giữ như một lời nhắc: biết giữ của là tốt, nhưng giữ đến mức không dám chi cho sức khoẻ, học hành, các mối quan hệ thì của cải mất đi ý nghĩa. Câu phú và lời chê đi cùng nhau mới thành một bức tranh cân bằng.
Câu hỏi thường gặp
Lộc Tồn thủ ư Điền Tài dịch sát là gì?
Dịch sát là "Lộc Tồn đóng ở cung Điền Trạch hay Tài Bạch". Vế sau "đôi kim tích ngọc" là vàng chất đống, ngọc chứa kho, hình ảnh của sự giàu có nhờ tích góp lâu dài.
Tuổi nào cũng có thể có Lộc Tồn ở Tài Bạch không?
Có. Mỗi can năm có một vị trí Lộc Tồn, và chỉ cần Mệnh ở đúng cung thì Lộc Tồn rơi vào Tài Bạch. Với mỗi tuổi, khoảng một phần mười hai số lá số có cấu trúc này.
Lộc Tồn và Hoá Lộc khác nhau thế nào?
Lộc Tồn là sao cố định theo can năm, tượng của để dành, kho giữ. Hoá Lộc là một hoá gắn lên sao khác, tượng dòng chảy, cơ hội. Câu phú này nói riêng về Lộc Tồn.
Lộc Tồn ở Tài Bạch mà bị Triệt thì sao?
Sách sẽ không áp câu phú này mà nói của khó giữ, phải tự tạo. Tuổi Quý và tuổi Bính có Lộc Tồn bị Triệt ở mọi lá số. Đó vẫn chỉ là cách sách mô tả, không phải lời báo về tài chính.
Thủ tài nô nghĩa là gì?
Là lời chê dành cho Lộc Tồn đứng một mình không có sao tốt hỗ trợ: người giữ của đến mức tiếc tiêu, như làm nô cho đồng tiền. Lời chê này đi cùng câu khen để thành bức tranh hai mặt.
Có nên mua nhà khi Lộc Tồn ở Điền Trạch?
Không nên dựa vào lá số cho quyết định đó. Mua nhà cần cân nhắc thu nhập, khoản vay, nhu cầu thật của gia đình. Câu phú chỉ là hình ảnh văn hoá về khuynh hướng tích luỹ.