ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Phụ tinh ít được giải thích

Thiên Trù và Lưu Hà: hai sao an theo can năm, bảng vị trí và cách đọc không doạ

Thiên Trù là sao bếp, Lưu Hà là sao ráng chiều, cả hai an theo can năm sinh. Bảng đủ mười can, câu thơ nhớ, giả thuyết nguồn gốc, lời sách và cách đọc Lưu Hà không doạ.

A small Vietnamese kitchen with a clay pot steaming over a charcoal stove at dusk, a calm river glimpsed through the open back door

Thiên Trù và Lưu Hà là hai phụ tinh nhỏ cùng an theo can năm sinh, mỗi can một vị trí, nhưng mang hai hình ảnh trái ngược. Thiên Trù nghĩa là bếp của trời: sách luận là có lộc ăn uống, khéo nấu nướng, hợp việc liên quan tới ăn uống. Lưu Hà nghĩa là ráng chiều trôi, sách cũ xếp vào nhóm sao cảnh báo về thương tích, máu chảy, sông nước.

Vì cùng an theo can, hai sao này là chỗ tốt để luyện thói quen tra bảng và kiểm dị bản. Bài này đưa bảng đủ mười can cho cả hai, câu thơ chữ Hán quen dùng để nhớ, một giả thuyết về nguồn gốc của Thiên Trù khớp được một phần, lời sách ở các cung, và cách đọc Lưu Hà theo hướng nhắc cẩn trọng chứ không doạ.

Bảng vị trí Thiên Trù, Lưu Hà theo mười can

Bảng theo cách an thông dụng của sách Việt và sách Trung Hoa. Tra theo can năm sinh âm lịch:

Can năm sinhThiên Trù ởLưu Hà ở
GiápTỵDậu
ẤtNgọTuất
BínhTýMùi
ĐinhTỵThân
MậuNgọTỵ
KỷThânNgọ
CanhDầnThìn
TânNgọMão
NhâmDậuHợi
QuýTuấtDần

Câu thơ chữ Hán hay dùng để nhớ Thiên Trù, dịch ý: Giáp, Đinh ăn ở đầu rắn (Tỵ); Ất, Mậu, Tân ở chỗ ngựa (Ngọ); Bính theo miệng chuột (Tý); Kỷ ăn trong phòng khỉ (Thân); Canh trên đầu hổ (Dần); Nhâm ở gà (Dậu), Quý ở làng chó (Tuất). Lưu Hà cũng có câu nhớ tương tự: Giáp gà, Ất chó, Bính dê, Đinh khỉ, Mậu rắn, Kỷ ngựa, Canh rồng, Tân thỏ, Nhâm lợn, Quý hổ.

Thiên Trù có dị bản ở một vài can, nhất là can Quý, nơi một số bảng ghi Hợi thay vì Tuất. Lưu Hà ổn định hơn giữa các bản. Gặp lá số lệch bảng, kiểm can năm âm lịch trước, rồi kiểm nguồn lập lá số theo bảng nào.

Một giả thuyết về nguồn gốc của Thiên Trù

Trong bát tự, can sinh ra can năm theo quan hệ "ta sinh" được gọi là thực thần, thần của sự ăn uống, hưởng thụ. Một số người nghiên cứu đề xuất rằng Thiên Trù được đặt ở vị trí Lộc của thực thần. Thử với can Giáp: thực thần của Giáp là Bính, Lộc của Bính ở Tỵ, và Thiên Trù của Giáp ở Tỵ. Thử với can Ất: thực thần là Đinh, Lộc của Đinh ở Ngọ, Thiên Trù của Ất ở Ngọ. Hai can đầu khớp đẹp.

Nhưng thử tiếp với can Đinh: thực thần là Kỷ, Lộc của Kỷ ở Ngọ, trong khi bảng ghi Thiên Trù của Đinh ở Tỵ. Can Bính: thực thần là Mậu, Lộc của Mậu ở Tỵ, bảng ghi Tý. Nhiều can khác cũng không khớp. Giả thuyết vì thế chỉ giải thích được một phần, và có thể bảng đã bị chép sai qua nhiều đời, hoặc nguồn gốc của sao vốn không theo một quy tắc duy nhất.

Bài này nêu giả thuyết để minh hoạ một điều: nhiều phụ tinh có bảng an mà ta không biết lý do, chỉ biết quy ước. Nhận ra chỗ khớp và chỗ không khớp giúp người đọc giữ thái độ đúng: dùng bảng như quy ước văn hoá, không tưởng rằng mỗi vị trí đều mang một lý lẽ sâu xa đã được chứng minh.

Sách luận gì về Thiên Trù

Tính chất chung. Sao chủ ăn uống, bếp núc, sự đủ đầy trong bữa ăn. Sách nói người có Thiên Trù ở chỗ quan trọng thì có "lộc ăn", không thiếu miếng ăn, biết thưởng thức, khéo nấu.

Ở Mệnh hoặc Phúc Đức. Lời sách: người sành ăn, thích nấu cho người khác ăn, coi trọng bữa cơm gia đình. Đây là lối đọc hiền, ít gây tranh cãi.

Ở Quan Lộc hoặc Tài Bạch. Một số sách gợi ý hợp nghề liên quan tới ăn uống, bếp núc, thực phẩm. Nên hiểu như gợi ý văn hoá, không phải chỉ dẫn chọn nghề.

Gặp Lộc Tồn, Hoá Lộc. Sách gộp thành ý "lộc ăn lộc mặc" đủ đầy. Cũng nên nhớ Thiên Trù và Lộc Tồn đều an theo can năm, nên sự gặp nhau này lặp lại ở mọi người cùng can có cung đó.

Ở Tật Ách. Có bản nói nên chú ý chuyện ăn uống. Lời nhắc này đúng với mọi người; mọi vấn đề tiêu hoá, dinh dưỡng cần được hỏi bác sĩ, không cần tra sao.

Lưu Hà: đọc lại một sao bị gắn với nỗi sợ

Lưu Hà là sao bị sách cũ viết nặng. Trong một số bản sách xưa, Lưu Hà được gắn với chuyện nam giới dễ bị thương tích bên ngoài, nữ giới gặp nguy khi sinh nở. Những lời ấy ra đời trong xã hội mà sinh nở là một trong những nguy cơ lớn nhất với phụ nữ, và thương tích do lao động, đi lại là chuyện thường ngày. Sách gắn nỗi lo phổ biến ấy vào một sao có tên gợi hình ảnh dòng chảy đỏ của ráng chiều.

Đọc hôm nay, cần nói rõ: những lời ấy không còn hợp. Lưu Hà an theo can năm, nên mọi người cùng can có sao này ở cùng địa chi; một sao chung cho một phần mười dân số không thể là dấu hiệu riêng về nguy cơ sức khoẻ của ai. Chuyện sinh nở an toàn phụ thuộc chăm sóc y tế, khám thai định kỳ, điều kiện sống, không phụ thuộc một sao trên lá số.

Nếu muốn giữ một ý từ Lưu Hà, đó là lời nhắc cẩn thận với sông nước và vật sắc khi làm việc, đi lại. Lời nhắc ấy đúng với tất cả mọi người, có sao này trên Mệnh hay không. Bất kỳ ai dùng Lưu Hà để doạ hay khuyên hoãn việc chăm sóc sức khoẻ đều đang đi ngược tinh thần đọc lá số cho tỉnh táo.

Lưu Hà không phải sao "lưu" của năm xem

Chữ "lưu" trong tên Lưu Hà dễ khiến người mới học nghĩ đây là một sao lưu niên, giống lưu Thái Tuế, lưu Lộc Tồn, lưu Kình Dương. Thực ra không phải. Vài điểm phân biệt:

  • Lưu Hà là sao gốc, an một lần theo can năm sinh, cố định suốt lá số. Chữ "lưu" ở đây là trôi, chảy, đi với "hà" là ráng mây, thành hình ảnh ráng chiều trôi.
  • Các sao lưu niên (lưu Thái Tuế, lưu Lộc, lưu Kình, lưu Đà, lưu Mã…) an theo can chi của năm đang xem, đổi chỗ mỗi năm. Chữ "lưu" ở đây là lưu chuyển theo năm.
  • Trên lá số in sẵn, sao lưu niên thường in bằng màu khác hoặc có tiền tố "L." như "L.Lộc", "L.Kình". Lưu Hà in như mọi phụ tinh gốc.
  • Một số nguồn lập lá số có thêm "lưu Lưu Hà", tức Lưu Hà tính theo can của năm xem. Đây là cách làm ít gặp, không phổ biến trong sách Việt.
  • Khi đọc một câu như "năm nay gặp Lưu Hà", hãy hỏi lại: đó là Lưu Hà gốc mà tiểu hạn đi tới, hay một sao tính theo năm xem. Hai cách hiểu cho hai lời bình khác hẳn.

Nhầm lẫn này không chỉ gây sai lời bình mà còn làm sao Lưu Hà bị thổi phồng: người đọc tưởng nó "đến" vào một năm cụ thể, trong khi thực ra nó đứng yên trên lá số gốc như mọi phụ tinh khác.

Tự kiểm hai sao trên một lá số in sẵn

Thiên Trù, Lưu Hà là hai sao dễ kiểm nhất trong lớp can vì chỉ cần một dữ kiện. Một quy trình ngắn:

  1. Xác định can năm sinh âm lịch. Với người sinh tháng Chạp hay tháng Giêng sát Tết, đối chiếu ngày chuyển năm âm lịch trước.
  2. Tra bảng ở trên để có vị trí địa chi của Thiên Trù và Lưu Hà.
  3. Tìm hai ô đó trên lá số in sẵn, đọc tên viết tắt (thường là "Th.Trù" và "L.Hà" hoặc "Lưu Hà").
  4. Nếu Lưu Hà in ở chỗ khác, kiểm xem đó có phải sao lưu niên đang in kèm không. Nếu Thiên Trù lệch ở can Quý, đó có thể là dị bản Hợi – Tuất.
  5. Ghi lại kết quả kiểm cạnh lá số, kể cả khi khớp. Thói quen này giúp phát hiện sớm những lá số an sai cả lớp can.

Làm như vậy với hai sao nhỏ mất chưa tới một phút, nhưng nó kiểm được cả việc nguồn lập lá số có xác định đúng can năm hay không. Nếu hai sao đều lệch cùng kiểu, nhiều khả năng can năm bị nhập sai, và khi đó cả Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, tứ hoá cũng sai theo.

Ví dụ giả định: tuổi Canh, Mệnh ở Dần

Giả định một người tuổi Canh, cung Mệnh an tại Dần. Tra bảng: Thiên Trù ở Dần, tức đóng ngay cung Mệnh; Lưu Hà ở Thìn. Với Mệnh ở Dần, đếm nghịch các cung: Sửu Huynh Đệ, Tý Phu Thê, Hợi Tử Tức, Tuất Tài Bạch, Dậu Tật Ách, Thân Thiên Di, Mùi Nô Bộc, Ngọ Quan Lộc, Tỵ Điền Trạch, Thìn Phúc Đức. Lưu Hà ở cung Phúc Đức.

Thêm lớp can Canh: Lộc Tồn ở Thân, nằm ở Thiên Di, chiếu thẳng về Mệnh. Như vậy Mệnh có Thiên Trù đồng cung và Lộc Tồn xung chiếu. Lời bình theo sách: người có lộc ăn uống, hay được mời mọc, sống thoải mái. Lưu Hà ở Phúc Đức thì sách cũ có thể viết lời nặng về dòng họ; lời bình cân bằng sẽ bỏ qua phần đó hoặc chỉ nói là nhắc giữ gìn sức khoẻ chung trong nhà.

Hai điều cần nhớ khi đọc ví dụ. Một, mọi người tuổi Canh có Mệnh ở Dần đều có cấu trúc y hệt. Hai, chính tinh ở Dần mới là phần chính của lời bình về Mệnh; nếu đó là Thiên Đồng hay Thiên Lương, bức tranh sẽ khác hẳn so với khi đó là Phá Quân. Thiên Trù chỉ thêm một nét hiền: bữa ăn và sự đủ đầy.

Hai sao theo can trong bức tranh chung

Thiên Trù và Lưu Hà thuộc nhóm sao an theo can năm, cùng với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Quan, Thiên Phúc và tứ hoá. Người đọc nhiều lá số thường gom cả nhóm này lại thành một "lớp can": chỉ cần biết can năm là vẽ được toàn bộ lớp. Thiên Trù, Lưu Hà là hai điểm nhỏ nhất của lớp, thường được đọc sau cùng.

Thứ tự đọc hợp lý là: chính tinh và độ sáng, rồi tứ hoá theo can, rồi Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, rồi các sao theo tháng, giờ, rồi mới đến các phụ tinh nhỏ như Thiên Trù, Lưu Hà. Đọc ngược thứ tự, bắt đầu từ sao nhỏ có tên gây ấn tượng, là cách dễ nhất để có một lời bình lệch.

Lá số xét cho cùng là một hệ biểu tượng của văn hoá cũ, dựng nên để người ta có ngôn ngữ nói về đời mình. Thiên Trù nhắc về giá trị của bữa ăn và sự chăm sóc; Lưu Hà, đọc lại cho đúng, nhắc về sự cẩn thận thường ngày. Không sao nào thay được quyết định về sức khoẻ, công việc hay gia đình, những thứ cần thông tin thật và người có chuyên môn.

Câu hỏi thường gặp

Thiên Trù có nghĩa là sẽ giàu có không?

Không. Thiên Trù là sao bếp, sách gắn với lộc ăn uống, sự đủ đầy trong bữa ăn, sở thích nấu nướng. Sao này an theo can năm, chung cho mọi người cùng can, nên không nói gì riêng về mức giàu nghèo của ai.

Lưu Hà ở Mệnh có đáng lo không?

Không có cơ sở để lo. Lời sách cũ về thương tích, sinh nở gắn với điều kiện sống của xã hội xưa. Lưu Hà chung cho mọi người cùng can năm. Nếu muốn giữ một ý, đó là lời nhắc cẩn thận thường ngày, đúng với mọi người.

Phụ nữ có Lưu Hà có nên lo khi mang thai không?

Không nên dựa vào lá số. An toàn khi mang thai và sinh nở phụ thuộc vào khám thai định kỳ, chăm sóc y tế và điều kiện sống. Mọi lo lắng về sức khoẻ nên hỏi bác sĩ. Lời sách cũ về Lưu Hà không còn hợp với hiểu biết hôm nay.

Vì sao bảng Thiên Trù ở các sách có chỗ khác nhau?

Bảng phụ tinh nhỏ được chép tay qua nhiều đời nên dễ lệch, nhất là ở can Quý. Nguồn gốc của bảng cũng không được ghi rõ; giả thuyết về Lộc của thực thần chỉ khớp một phần. Gặp chỗ lệch, hãy ghi lại nguồn lập lá số dùng bảng nào.

Có câu nào dễ nhớ để an Thiên Trù không?

Có thể nhớ theo câu thơ chữ Hán dịch ý: Giáp Đinh ở Tỵ, Ất Mậu Tân ở Ngọ, Bính ở Tý, Kỷ ở Thân, Canh ở Dần, Nhâm ở Dậu, Quý ở Tuất. Chép tay một lần cạnh bảng Lộc Tồn sẽ giúp nhớ lâu.

Thiên Trù ở Quan Lộc có nghĩa là nên làm nghề ăn uống không?

Sách có gợi ý như vậy, nhưng đó là liên tưởng hình ảnh. Chọn nghề cần dựa vào năng lực, sở thích, cơ hội và thông tin thực tế về ngành. Lá số không nên là căn cứ để chọn hay đổi nghề.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.