Vòng Bác Sĩ là chuỗi mười hai sao an liên tiếp quanh địa bàn, khởi từ cung có Lộc Tồn. Thứ tự là Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Dương nam và âm nữ an theo chiều thuận, âm nam và dương nữ an theo chiều nghịch. Vì vậy Bác Sĩ luôn đồng cung với Lộc Tồn.
Vòng sao này có mặt trên hầu hết lá số in sẵn ở Việt Nam, nhưng ít khi được giải thích: tên các sao nghe như một đội ngũ trong triều (học sĩ, lực sĩ, tướng quân, quan phủ), lại có cả những cái tên gây lo như Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh. Bài này hướng dẫn cách an, ví dụ cho hai giới, quan hệ cố định với Kình Dương và Đà La, ý nghĩa từng sao, các cặp xung chiếu, và cách đọc cả vòng cho tỉnh táo.
Cách an vòng Bác Sĩ từng bước
Muốn an vòng Bác Sĩ cần hai dữ liệu: vị trí Lộc Tồn (theo can năm sinh) và chiều đi (theo âm dương của năm và giới tính).
- Tìm Lộc Tồn theo can năm: Giáp ở Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý.
- Xác định âm dương: năm can Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là năm dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là năm âm. Nam sinh năm dương là dương nam, nữ sinh năm dương là dương nữ, tương tự với năm âm.
- Chọn chiều: dương nam và âm nữ đi thuận (theo chiều kim đồng hồ trên địa bàn); âm nam và dương nữ đi nghịch.
- An Bác Sĩ ngay tại cung Lộc Tồn, rồi lần lượt an mười một sao còn lại mỗi cung một sao theo chiều đã chọn: Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.
- Tự kiểm: Lực Sĩ và Quan Phủ phải nằm ở hai cung kẹp Lộc Tồn, trùng với Kình Dương hoặc Đà La (xem mục sau).
Chiều đi của vòng Bác Sĩ trùng với chiều đi của đại vận: dương nam âm nữ thuận, âm nam dương nữ nghịch. Vì vậy hai người cùng năm sinh nhưng khác giới có vòng Bác Sĩ ngược chiều nhau, dù Bác Sĩ vẫn cùng một cung.
Ví dụ giả định: năm Giáp, một nam một nữ
Năm Giáp có Lộc Tồn ở Dần. Nam sinh năm Giáp là dương nam (đi thuận), nữ sinh năm Giáp là dương nữ (đi nghịch):
| Sao | Dương nam năm Giáp | Dương nữ năm Giáp |
|---|---|---|
| Bác Sĩ | Dần | Dần |
| Lực Sĩ | Mão | Sửu |
| Thanh Long | Thìn | Tý |
| Tiểu Hao | Tỵ | Hợi |
| Tướng Quân | Ngọ | Tuất |
| Tấu Thư | Mùi | Dậu |
| Phi Liêm | Thân | Thân |
| Hỷ Thần | Dậu | Mùi |
| Bệnh Phù | Tuất | Ngọ |
| Đại Hao | Hợi | Tỵ |
| Phục Binh | Tý | Thìn |
| Quan Phủ | Sửu | Mão |
Hai cột chỉ trùng nhau ở Bác Sĩ (Dần) và Phi Liêm (Thân), vì đó là hai điểm nằm trên trục xoay. Mười sao còn lại đổi chỗ đối xứng qua trục Dần – Thân.
Với năm Giáp, Kình Dương ở Mão và Đà La ở Sửu. Ở cột nam, Lực Sĩ trùng Kình Dương (Mão), Quan Phủ trùng Đà La (Sửu); ở cột nữ thì ngược lại: Lực Sĩ trùng Đà La, Quan Phủ trùng Kình Dương. Quy luật này đúng với mọi năm sinh.
Quan hệ cố định với Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La
Kình Dương luôn ở cung kế tiếp Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La ở cung liền trước Lộc Tồn, tức hai sao kẹp Lộc Tồn. Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn nên sao thứ hai (Lực Sĩ) và sao thứ mười hai (Quan Phủ) luôn rơi vào hai cung kẹp ấy. Với người đi thuận, Lực Sĩ gặp Kình Dương, Quan Phủ gặp Đà La; với người đi nghịch thì đổi lại.
Sách vì thế hay đọc Lực Sĩ như "sức mạnh đi cùng lưỡi dao": khi trùng Kình Dương, sức mạnh có tính quyết liệt; khi trùng Đà La, sức mạnh bền bỉ nhưng chậm. Quan Phủ, sao của công quyền, giấy tờ, khi gặp Đà La thì sách nói giấy tờ dây dưa; khi gặp Kình Dương thì nói va chạm với quy định. Các cách đọc này là liên tưởng của sách, nhưng chúng cho thấy vòng Bác Sĩ được thiết kế gắn chặt với cụm Lộc Tồn – Kình – Đà.
Hiểu quan hệ này còn giúp kiểm lá số nhanh: nếu thấy Lực Sĩ không nằm cạnh Lộc Tồn hoặc Bác Sĩ không cùng cung Lộc Tồn, lá số đã an sai can năm hay sai chiều theo giới tính.
Ý nghĩa từng sao trong vòng
Bác Sĩ. Học sĩ uyên bác: thông minh, ham học, có kiến thức; đi cùng Lộc Tồn nên sách hay đọc là "có lộc nhờ hiểu biết".
Lực Sĩ. Sức mạnh, quyền lực thực thi, khả năng chịu áp lực.
Thanh Long. Rồng xanh: niềm vui, tin tốt, hỷ sự; sách cho rằng làm dịu bớt sao xấu đồng cung.
Tiểu Hao. Hao nhỏ: chi tiêu lặt vặt, mất mát nhỏ; cũng là sự lưu thông, tiền có ra có vào.
Tướng Quân. Uy dũng, can đảm, khí chất chỉ huy; đi với sao tốt thì có uy, với sao xấu thì nóng nảy.
Tấu Thư. Văn thư dâng lên vua: tài ăn nói, viết lách, trình bày, đề xuất.
Phi Liêm. Sự nhanh nhẹn, lanh lợi, cũng là thị phi bay nhanh; sách hay ví với tin đồn.
Hỷ Thần. Niềm vui, may mắn nhỏ, sự hoà nhã.
Bệnh Phù. Sự mệt mỏi, trì trệ. Trang này không dùng Bệnh Phù để đoán bệnh; đọc như lời nhắc giữ sức, nghỉ ngơi.
Đại Hao. Hao lớn: chi tiêu lớn, thay đổi lớn; cũng có thể là sự hào phóng, dám bỏ ra.
Phục Binh. Quân mai phục: cạnh tranh ngầm, điều chưa lộ; nhắc cẩn trọng với hợp đồng, lời hứa chưa rõ.
Quan Phủ. Công quyền, giấy tờ, thủ tục; sách cũ gắn với kiện tụng, đọc hôm nay là việc cần làm đúng quy định.
Các cặp xung chiếu và bộ tam hợp trong vòng
Vì mười hai sao đi liền nhau, quan hệ giữa chúng là cố định ở mọi lá số. Biết các cặp này giúp đọc nhanh:
- Bác Sĩ xung Phi Liêm: hiểu biết đối diện lời đồn; sách nói người có học vấn cần cẩn thận với thị phi.
- Lực Sĩ xung Hỷ Thần: sức mạnh đối diện niềm vui; quyền lực dùng tốt thì mang lại hoà khí.
- Thanh Long xung Bệnh Phù: tin vui đối diện mệt mỏi; sách hay coi Thanh Long là thứ làm dịu Bệnh Phù.
- Tiểu Hao xung Đại Hao: hai sao hao luôn đối nhau, gọi là Song Hao; trục có Song Hao được sách xem là trục tiền bạc lưu chuyển mạnh.
- Tướng Quân xung Phục Binh: người chỉ huy đối diện quân mai phục; cạnh tranh công khai và ngầm luôn đi cùng nhau.
- Tấu Thư xung Quan Phủ: văn thư đối diện công quyền; việc giấy tờ, trình bày với cơ quan.
- Bốn bộ tam hợp: Bác Sĩ – Tướng Quân – Bệnh Phù; Lực Sĩ – Tấu Thư – Đại Hao; Thanh Long – Phi Liêm – Phục Binh; Tiểu Hao – Hỷ Thần – Quan Phủ. Cung nào có một sao thì tam phương của nó luôn có hai sao còn lại.
Những quan hệ này cho thấy vòng Bác Sĩ được dựng như một bàn cờ cân đối: mỗi sao "tốt" đều có một sao "khó" đối diện. Người soạn sách dường như muốn nói rằng ở bất kỳ mặt đời sống nào cũng có cả thuận lợi lẫn thử thách.
Vòng Bác Sĩ đặt cạnh vòng Tràng Sinh và vòng Thái Tuế
Lá số tử vi phổ biến ở Việt Nam có ba vòng mười hai sao chạy quanh địa bàn. Vòng Tràng Sinh khởi theo ngũ hành cục, nói về chu kỳ sinh trưởng của năng lượng. Vòng Thái Tuế khởi theo chi năm sinh, nói về thái độ, cách người đó đứng trước đời. Vòng Bác Sĩ khởi theo can năm qua Lộc Tồn, nói về những sự việc, cơ hội và hao tổn xảy đến. Ba vòng ứng với ba dữ liệu khác nhau: cục, chi năm và can năm.
Vì có ba vòng chồng lên nhau, mỗi cung trên lá số luôn có ba "sao vòng". Người mới học dễ bị ngợp và đọc từng sao riêng lẻ. Cách gọn hơn là đọc vòng Bác Sĩ như lớp "sự kiện", vòng Thái Tuế như lớp "thái độ", vòng Tràng Sinh như lớp "sức sống", rồi xem ba lớp ấy ăn khớp hay mâu thuẫn ở cung đang xét.
Muốn ôn lại vòng Tràng Sinh, Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La ở mức khái niệm nền trước khi đọc kỹ vòng Bác Sĩ, có thể đọc loạt bài nhập môn ở trungtamtuvi.com.
Đọc vòng Bác Sĩ cho tỉnh táo
Những cái tên như Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ dễ khiến người cầm lá số giật mình. Nhưng cần nhớ: mọi lá số đều có đủ mười hai sao này, mỗi cung một sao, nên ai cũng có một cung chứa Bệnh Phù và một cung chứa Quan Phủ. Đọc chúng thành lời báo bệnh tật hay kiện tụng là biến một cấu trúc bắt buộc thành nỗi sợ ai cũng phải gánh.
Cách dùng hữu ích là coi vòng Bác Sĩ như danh sách những "chủ đề" mà từng mặt đời sống hay gặp: cung có Tấu Thư thì chú trọng trình bày, cung có Phục Binh thì cẩn trọng với điều chưa rõ, cung có Song Hao thì lập kế hoạch tài chính. Lá số là hệ biểu tượng của văn hoá cũ; nó gợi ra chỗ nên để ý, còn hành động thật vẫn dựa vào thông tin, kế hoạch và lời khuyên của người có chuyên môn.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Bác Sĩ luôn cùng cung với Lộc Tồn?
Vì vòng Bác Sĩ được quy ước khởi ngay tại cung Lộc Tồn. Lộc Tồn an theo can năm sinh, nên những người cùng can năm có Bác Sĩ ở cùng cung; chỉ có chiều đi của mười một sao còn lại là khác nhau tuỳ âm dương và giới tính.
Bệnh Phù có nghĩa là sẽ bị bệnh không?
Không. Mọi lá số đều có Bệnh Phù ở một cung vì vòng mười hai sao phủ kín địa bàn. Sách xưa gắn Bệnh Phù với mệt mỏi, trì trệ; trang này không dùng nó để đoán bệnh. Sức khoẻ cần khám định kỳ và theo hướng dẫn của bác sĩ.
Quan Phủ ở cung Mệnh có phải dễ bị kiện tụng không?
Sách cũ có luận như vậy, nhưng đọc hôm nay Quan Phủ là biểu tượng của công quyền, giấy tờ, thủ tục. Người có Quan Phủ ở Mệnh có thể hiểu là nên làm việc đúng quy định, giữ hồ sơ rõ ràng. Không nên coi là lời báo trước chuyện kiện cáo.
Song Hao là gì?
Song Hao là cặp Tiểu Hao và Đại Hao, luôn nằm ở hai cung xung chiếu nhau trong vòng Bác Sĩ. Sách coi trục có Song Hao là nơi tiền bạc, sức lực lưu chuyển mạnh, có ra có vào. Đọc thực tế là lời nhắc lập kế hoạch chi tiêu cho mặt đời sống ấy.
Nam nữ cùng năm sinh có vòng Bác Sĩ giống nhau không?
Bác Sĩ và Phi Liêm ở cùng vị trí, nhưng mười sao còn lại đi ngược chiều nhau vì nam và nữ cùng năm có âm dương khác nhau. Ví dụ năm Giáp, nam có Lực Sĩ ở Mão còn nữ có Lực Sĩ ở Sửu.
Vòng Bác Sĩ khác vòng Thái Tuế thế nào?
Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn theo can năm và có chiều thuận nghịch tuỳ giới; vòng Thái Tuế khởi từ cung mang chi năm sinh và luôn đi thuận. Sách thường đọc vòng Bác Sĩ thiên về sự việc, cơ hội, hao tổn, còn vòng Thái Tuế thiên về thái độ, cách ứng xử.