Nữ tuổi Nhâm Tuất sinh năm âm lịch 1982 (vòng trước 1922, vòng sau 2042), mệnh nạp âm Đại Hải Thuỷ, nước biển lớn. Can Nhâm là dương nên người nữ này là dương nữ, đại vận đi nghịch. Theo năm sinh: Lộc Tồn ở Hợi, Kình Dương ở Tý, Đà La ở Tuất; Thiên Khôi ở Mão, Thiên Việt ở Tỵ; Thiên Mã ở Thân; Tuần ở Tý–Sửu, Triệt ở Dần–Mão.
Tứ hoá theo can Nhâm: Thiên Lương hoá Lộc, Tử Vi hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Kỵ; riêng Hoá Khoa là chỗ sách chép hai cách — Tả Phù hoặc Thiên Phủ. Bài này giải thích từng vị trí, cái hay của trường hợp Đà La đóng đúng cung năm sinh, và vì sao gặp dị bản tứ hoá thì người đọc nên ghi chú nguồn thay vì chọn bản "dễ nghe" hơn.
Đại Hải Thuỷ và những gì nạp âm làm được, không làm được trên lá số
Đại Hải Thuỷ là nạp âm của cặp Nhâm Tuất và Quý Hợi, đứng cuối vòng sáu mươi hoa giáp. Trên lá số đẩu số, nạp âm bản mệnh có hai việc chính: so với ngũ hành cục để xem mệnh cục sinh hay khắc nhau, và so với hành của cung Mệnh hay chính tinh để thêm một lớp nhận xét. Ngoài hai việc ấy, nạp âm không quyết định sao nào ở đâu.
Với can Nhâm, cục theo cung Mệnh như sau: Mệnh ở Ngọ, Mùi là Thuỷ nhị cục, tức mệnh cục đồng hành; Tý, Sửu là Mộc tam cục (mệnh sinh cục); Dần, Mão, Tuất, Hợi là Kim tứ cục (cục sinh mệnh, sách xem là thuận nhất); Thân, Dậu là Thổ ngũ cục (cục khắc mệnh); Thìn, Tỵ là Hoả lục cục (mệnh khắc cục). Bốn cung cho Kim tứ cục chiếm một phần ba vòng, nên khá nhiều lá số Nhâm Tuất rơi vào thế cục sinh mệnh.
Có một ngộ nhận phổ biến: "mệnh Thuỷ lớn nên tính cách bao dung như biển". Đó là ghép hình ảnh nạp âm sang tính cách, kiểu liên tưởng văn chương. Sách đẩu số nghiêm túc không suy tính cách từ nạp âm; tính cách được đọc từ chính tinh ở Mệnh và các sao hội chiếu.
Lộc Tồn ở Hợi, Kình Dương ở Tý trong Tuần, Đà La ở Tuất
Lộc Tồn của can Nhâm đóng tại Hợi, một trong bốn cung Tứ sinh (Dần, Thân, Tỵ, Hợi). Kình Dương đi trước một bước ở Tý, Đà La lùi một bước ở Tuất. Kình Dương ở Tý là vị trí sách ghi hãm, nhưng với Nhâm Tuất, ô Tý nằm trong Tuần (Tý–Sửu). Phần đông các phái coi Tuần làm giảm cường độ sao trong ô, nên Kình Dương hãm mà gặp Tuần được luận là "bớt sắc".
Đà La ở Tuất là đắc địa và đặc biệt ở chỗ Tuất cũng là chi năm sinh, tức cung có sao Thái Tuế. Với lá số Nhâm Tuất có Mệnh tại Tuất, sách sẽ ghi Đà La và Thái Tuế cùng thủ Mệnh: người kiên trì, ăn nói có lập luận, đôi khi cứng nhắc. Nếu Mệnh ở Thìn, Đà La và Thái Tuế ở Thiên Di xung chiếu về.
Về nữ mệnh, các sách cũ có thói quen nặng lời với Kình Dương và Đà La, coi người phụ nữ có hai sao này ở Mệnh hay Phu Thê là "khó sống với chồng". Cách hiểu hôm nay là hai sao này mô tả độ sắc và độ bền trong cách xử lý việc; một người quản lý, bác sĩ, kỹ sư có những phẩm chất đó là điều bình thường. Muốn ôn lại ý nghĩa nền của Kình Đà và Tuần Triệt, có thể đọc loạt bài nhập môn ở trungtamtuvi.com.
Hoá Khoa can Nhâm: Tả Phù hay Thiên Phủ
Can Nhâm là một trong hai can mà các phái ghi tứ hoá khác nhau rõ nhất (can kia là Canh). Bảng dưới đặt hai bản cạnh nhau để bạn biết lá số mình đang theo bản nào:
| Hoá | Bản phổ biến trong sách Trung Hoa | Nhiều bản lá số in ở Việt Nam |
|---|---|---|
| Hoá Lộc | Thiên Lương | Thiên Lương |
| Hoá Quyền | Tử Vi | Tử Vi |
| Hoá Khoa | Tả Phù | Thiên Phủ |
| Hoá Kỵ | Vũ Khúc | Vũ Khúc |
Khác biệt nằm ở một sao nhưng hệ quả không nhỏ: Tả Phù an theo tháng sinh, Thiên Phủ an theo ngày sinh và cục, nên Hoá Khoa có thể nằm ở hai cung hoàn toàn khác nhau. Cách làm cẩn thận là xem lá số bạn cầm ghi Khoa ở sao nào, rồi đọc theo đúng bản đó, đừng trộn.
Vũ Khúc hoá Kỵ ở can Nhâm được sách luận nhiều về tiền bạc: chi tiêu bất ngờ, đầu tư vướng mắc, nợ nần. Với nữ mệnh, một số bản cũ còn suy ra "chồng hao tài". Đọc tỉnh táo, đó là gợi ý xem lại thói quen quản lý tiền, không phải lời báo trước.
Thiên Khôi ở Mão bị Triệt, Thiên Mã ở Thân không vướng gì
Cặp quý nhân của can Nhâm là Thiên Khôi ở Mão và Thiên Việt ở Tỵ. Triệt của can Nhâm rơi đúng Dần–Mão, nên Thiên Khôi bị Triệt, còn Thiên Việt ở Tỵ thì sạch. Sách gọi Khôi là quý nhân "ban ngày", người giúp công khai, thường là bề trên; Việt là quý nhân "ban đêm", sự giúp kín đáo, đến từ người cùng vai hoặc phụ nữ. Một lá số Nhâm Tuất có Mệnh hay Quan Lộc ở Tỵ vì vậy được luận là được giúp rõ hơn lá số có Mệnh ở Mão.
Thiên Mã của tuổi Tuất đóng ở Thân và với Nhâm Tuất không nằm trong Tuần hay Triệt. Thân lại thuộc tam hợp Thân–Tý–Thìn, nên nếu lá số có Mệnh ở Thìn hoặc Tý, Thiên Mã hội chiếu về Mệnh. Kết hợp với Lộc Tồn ở Hợi (tam hợp Hợi–Mão–Mùi) thì Lộc và Mã của tuổi này không cùng tam hợp, ít khi chiếu chung một cung, khác với tuổi Canh Tuất có Lộc Mã ngồi chung ở Thân.
Những so sánh như vậy giúp thấy rõ rằng "tuổi Tuất" không phải một khối đồng nhất. Năm tuổi Tuất trong vòng sáu mươi năm (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) có năm bộ Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, tứ hoá khác nhau; chỉ những sao an theo chi năm như Thiên Mã, Thái Tuế, Hồng Loan mới chung.
Vòng Bác Sĩ của dương nữ Nhâm Tuất
Vòng mười hai sao Bác Sĩ khởi ở cung có Lộc Tồn; dương nữ đi nghịch. Vì Lộc Tồn ở Hợi, vị trí cả vòng với nữ Nhâm Tuất là:
| Sao | Cung |
|---|---|
| Bác Sĩ | Hợi |
| Lực Sĩ | Tuất |
| Thanh Long | Dậu |
| Tiểu Hao | Thân |
| Tướng Quân | Mùi |
| Tấu Thư | Ngọ |
| Phi Liêm | Tỵ |
| Hỷ Thần | Thìn |
| Bệnh Phù | Mão |
| Đại Hao | Dần |
| Phục Binh | Sửu |
| Quan Phủ | Tý |
Trong vòng này, sách hay nhắc Tấu Thư (văn thư, lời khen), Thanh Long (tin vui), Hỷ Thần (niềm vui), Phi Liêm (sự nhanh, đôi khi là tin đồn), Đại Hao và Tiểu Hao (hao tán), Phục Binh (sự ngấm ngầm), Quan Phủ (giấy tờ, pháp lý). Đây là phụ tinh hạng nhẹ, chỉ dùng để tô thêm khi đọc cung, không đứng riêng làm lời luận.
Ví dụ giả định: lá số có Quan Lộc tại Ngọ sẽ có Tấu Thư ở cung sự nghiệp, sách ưa luận về khả năng viết, trình bày. Lá số có Tài Bạch tại Dần thì Đại Hao nằm trong Tài Bạch và còn bị Triệt — lại là một chi tiết mà nhiều phái đọc theo hướng "hao mà bị chặn bớt".
Những sao theo chi Tuất mà nữ Nhâm Tuất dùng chung với mọi tuổi Tuất
Hồng Loan ở Tỵ, Thiên Hỷ ở Hợi. Hai sao sách gắn với chuyện vui, hôn lễ, an theo chi năm. Với Nhâm Tuất, Thiên Hỷ ở Hợi lại ngồi chung với Lộc Tồn, nên lá số nào có Mệnh hay Phúc Đức tại Hợi sẽ được sách tả là "có lộc, có hỷ". Cần nhớ cặp này giống hệt ở mọi người tuổi Tuất, nam lẫn nữ.
Cô Thần ở Hợi, Quả Tú ở Mùi. Nhóm Thân–Dậu–Tuất có Cô Thần tại Hợi, Quả Tú tại Mùi. Sách nữ mệnh đời trước hay đem Quả Tú ra để nói chuyện goá bụa, cô quạnh. Đọc hôm nay, đây là sao của sự tự lập và nhu cầu khoảng riêng; nó cố định cho cả một nhóm năm sinh nên không thể là lời báo riêng cho ai.
Vòng Thái Tuế bắt đầu từ Tuất. Thái Tuế ở Tuất, Tang Môn ở Tý, Tuế Phá ở Thìn, Bạch Hổ ở Ngọ, Điếu Khách ở Thân. Tên các sao nghe nặng nề, nhưng trong đẩu số chúng là phụ tinh hạng nhẹ mô tả "không khí" của cung: Thái Tuế là lời nói có trọng lượng, Tuế Phá là sự phá cách, Bạch Hổ là sự mạnh mẽ, đôi khi là va chạm.
Thiên Mã ở Thân. Như đã nói ở trên, không vướng Tuần Triệt với can Nhâm. Thiên Mã an theo chi năm là cách phổ biến trong sách Việt; một số phái còn an thêm theo tháng, nên có lá số in hai sao Mã ở hai chỗ.
Lời sách phổ thông về nữ Nhâm Tuất và cách giữ lại phần dùng được
Những cuốn sách Thái Ất phổ thông thường mô tả nữ Nhâm Tuất qua các mục quen thuộc: cuộc sống trọn đời chia ba chặng, tình duyên theo tháng sinh, công danh, tuổi hợp làm ăn, tuổi kỵ cưới và các năm cần thận trọng. Văn của các sách này có phần cố định đến mức đọc nhiều tuổi liền nhau sẽ thấy cùng một khung chỉ thay vài chữ.
Phần đáng giữ lại thường là những lời khuyên chung về cách sống: tránh nóng giận, cẩn thận khi cho vay, giữ hoà khí trong nhà. Phần nên để yên là những câu chắc nịch về số lần đổi duyên, số con, năm nào "đại kỵ". Không có cách nào kiểm chứng những câu ấy cho một người cụ thể, và người đọc dễ mang theo lo lắng vô cớ.
Còn với lá số đẩu số đủ giờ, phần theo năm trình bày ở trên chỉ là nền. Cung Mệnh, chính tinh, cục, Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp phải có giờ sinh. Mọi bản đồ biểu tượng, dù tinh vi đến đâu, cũng chỉ giúp ta đặt câu hỏi về bản thân; việc học, việc làm, chuyện gia đình vẫn được quyết bằng hoàn cảnh thật và lựa chọn của chính mình. Muốn tra nhanh năm 1982 hợp màu, hướng nào theo quan niệm, xem thêm tuviphongthuy.com.
Câu hỏi thường gặp
Nữ Nhâm Tuất 1982 là dương nữ hay âm nữ?
Dương nữ, vì can Nhâm thuộc dương. Âm dương trên lá số tính theo can năm sinh, không theo chi. Dương nữ đi đại vận nghịch, nghĩa là vận thứ hai rơi vào cung Huynh Đệ, vận thứ ba vào cung Phu Thê.
Lá số in sẵn ghi Thiên Phủ hoá Khoa, sách khác ghi Tả Phù, bên nào đúng?
Cả hai đều là bản có lịch sử, các phái chưa thống nhất. Không có thí nghiệm nào phân xử được. Cách hợp lý là đọc nhất quán theo một bản, ghi chú rõ nguồn, và không lấy chỗ dị bản làm căn cứ cho kết luận quan trọng.
Kình Dương ở Tý gặp Tuần có còn đáng ngại không?
Sách luận Kình Dương hãm ở Tý mà gặp Tuần thì bớt sắc. Dù theo cách luận nào, Kình Dương chỉ mô tả kiểu năng lượng quyết liệt, dễ va chạm. Nó không báo trước tai nạn hay bất hoà cụ thể nào.
Vì sao bốn cung cho Kim tứ cục lại được coi là thuận với Nhâm Tuất?
Vì Kim sinh Thuỷ, mà bản mệnh Nhâm Tuất là Đại Hải Thuỷ. Sách gọi đó là cục sinh mệnh và luận là được nâng đỡ. Đây chỉ là một chỉ báo phụ trong cả lá số, không quyết định tổng thể.
Thiên Mã ở Thân có nghĩa nữ Nhâm Tuất hay đi xa?
Thiên Mã cố định ở Thân với mọi người tuổi Tuất. Nó chỉ nói về di chuyển khi cung Thân là cung quan trọng trên lá số của bạn hoặc chiếu về cung Mệnh. Với lá số khác, Thiên Mã có thể chỉ nằm ở một cung phụ.
Sinh tháng Một năm 1982 dương lịch có phải Nhâm Tuất không?
Thường là không. Tết Nhâm Tuất rơi vào cuối tháng Một năm 1982, nên người sinh trước Tết thuộc năm Tân Dậu, mệnh Thạch Lựu Mộc. Bạn nên tra lịch âm dương đúng ngày sinh trước khi lập lá số.