Giáp Tý là năm đứng đầu vòng sáu mươi hoa giáp, và lá số nam Giáp Tý cũng có một nét "đầu bảng" dễ nhận: Lộc Tồn và Thiên Mã cùng đóng ở Dần. Can Giáp đặt Lộc Tồn ở Dần, nhóm chi Thân Tý Thìn đặt Thiên Mã cũng ở Dần, nên mọi người nam sinh năm 1924, 1984, 2044 đều có ô Dần mang cả hai sao. Đi kèm là Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu, Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi, Tuần ở Tuất – Hợi, Triệt ở Thân – Dậu.
Giáp là dương can, nam Giáp Tý là dương nam, đại vận đi thuận. Nạp âm Hải Trung Kim, vàng trong biển, dùng chung với Ất Sửu. Thế hệ 1984 năm nay ngoài bốn mươi, đúng lúc nhiều người bắt đầu tự tra lá số để nhìn lại nửa đường đã qua. Bài này đọc kỹ ô Dần, ô Sửu và ô Mão, rồi tách phần nào cần giờ sinh.
Ô Dần: Lộc Tồn, Thiên Mã, Cô Thần và Tang Môn cùng một chỗ
Lộc Mã cùng ô là tổ hợp được sách xưa nhắc với giọng ưa thích: Lộc là của giữ được, Mã là sự đi lại, hai thứ gặp nhau thì "của theo chân mà đến". Các tuổi có Lộc Mã đồng cung theo năm khá ít: chỉ những tuổi Giáp mà chi thuộc Thân Tý Thìn (Lộc và Mã cùng ở Dần) và những tuổi Canh mà chi thuộc Dần Ngọ Tuất (cùng ở Thân). Giáp Tý là một trong sáu tuổi đó.
Nhưng ô Dần của nam Giáp Tý không chỉ có Lộc Mã. Cô Thần của nhóm Hợi Tý Sửu an ở Dần, Tang Môn của vòng Thái Tuế cũng ở Dần, cùng Bác Sĩ đầu vòng Bác Sĩ. Sách phổ thông hay bỏ qua hai sao sau để chỉ khen Lộc Mã. Đọc đủ thì ô này kể một câu chuyện có hai mặt: đi lại để làm ra, nhưng đi một mình, đôi khi xa người thân.
Cũng như mọi sao an theo năm, sức nặng của ô Dần tuỳ nó là cung gì trên lá số riêng. Nếu Dần là Mệnh, Tài Bạch hay Thiên Di, câu chuyện "đi để làm ra" được sách đọc to nhất; nếu Dần là Tử Tức hay Huynh Đệ, các sao này chỉ tô màu cho những cung ít liên quan đến nghề và tiền.
Điều nên giữ lại từ tổ hợp này là một gợi ý để tự hỏi, không phải lời hứa: công việc của mình có đang đòi di chuyển nhiều không, và mình sắp xếp phần gia đình thế nào khi phải đi. Còn chuyện có của hay không thì không sao nào trả lời thay được.
Mười hai ô của nam Giáp Tý theo các sao an theo năm
Bảng gộp sao theo can Giáp, chi Tý và hai vòng mười hai sao. Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn ở Dần và đi thuận vì là dương nam:
| Ô | Sao an theo năm |
|---|---|
| Tý | Thái Tuế, Phục Binh |
| Sửu | Đà La, Thiên Khôi, Thiếu Dương, Quan Phủ |
| Dần | Lộc Tồn, Thiên Mã, Cô Thần, Tang Môn, Bác Sĩ |
| Mão | Kình Dương, Hồng Loan, Thiếu Âm, Lực Sĩ |
| Thìn | Hoa Cái, Long Trì, Quan Phù, Thanh Long |
| Tỵ | Tử Phù, Tiểu Hao |
| Ngọ | Thiên Khốc, Thiên Hư, Tuế Phá, Tướng Quân |
| Mùi | Thiên Việt, Long Đức, Tấu Thư |
| Thân | Bạch Hổ, Phi Liêm — trong Triệt |
| Dậu | Đào Hoa, Thiên Hỷ, Phúc Đức, Hỷ Thần — trong Triệt |
| Tuất | Quả Tú, Phượng Các, Điếu Khách, Bệnh Phù — trong Tuần |
| Hợi | Trực Phù, Đại Hao — trong Tuần |
Tứ hoá can Giáp: Liêm Trinh hoá Lộc, Phá Quân hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Khoa, Thái Dương hoá Kỵ, gần như thống nhất giữa các phái. Mệnh chủ theo chi cung Mệnh, thân chủ theo chi năm Tý là Hoả Tinh.
Một nét đáng để ý là cả Tuần lẫn Triệt đều rơi vào nửa Thân – Hợi của lá số, nửa có Đào Hoa và Thiên Hỷ. Nửa Dần – Mão, nơi có Lộc, Mã, Kình, Hồng Loan, thì hoàn toàn thoáng.
Đà La đứng cùng Thiên Khôi ở Sửu
Can Giáp, Mậu và Canh theo bản phổ biến đặt Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi. Với can Giáp, Đà La (lùi một ô sau Lộc Tồn ở Dần) cũng rơi vào Sửu. Thế là quý nhân và sao kéo dài đứng chung một chỗ, thêm Thiếu Dương và Quan Phủ.
Sách xưa không có lời phú riêng cho cặp này, nhưng người xem thường diễn là "quý nhân đến chậm" hoặc "được giúp mà phải chờ". Đà La ở Sửu lại đắc địa, nên cái chậm ấy được hiểu theo nghĩa bền, đều, không gấp. Đặt cạnh ô Mão bên kia Lộc Tồn, nơi Kình Dương hãm đứng với Hồng Loan, người ta có hình ảnh một người kẹp giữa hai nhịp: một bên nhanh, sắc, nhiều cảm xúc; một bên chậm, kiên nhẫn, có người đỡ.
Kình Dương và Hồng Loan cùng ô Mão là chi tiết khá đặc biệt của tuổi Tý (Hồng Loan tuổi Tý luôn ở Mão), nhưng chỉ tuổi Giáp mới có Kình đến đây. Các sách phổ thông đôi khi viết nặng về "tình duyên trắc trở" từ tổ hợp này. Cách đọc cân bằng: đây là ô của cảm xúc mạnh, của sự thẳng thắn khi thích hay không thích; nó không nói gì về hôn nhân cụ thể của ai.
Tứ hoá can Giáp: Thái Dương hoá Kỵ và chuyện "người cha" trong sách
Liêm Trinh hoá Lộc, Phá Quân hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Khoa, Thái Dương hoá Kỵ. Bộ tứ hoá này nghiêng về nhóm sao hành động: Liêm Trinh, Phá Quân, Vũ Khúc đều là sao của việc làm, tổ chức, cải biến. Sách xưa vì vậy hay nói người tuổi Giáp hợp với việc tự gây dựng, đổi mới.
Thái Dương hoá Kỵ là chỗ các sách phổ thông viết nhiều nhất, vì Thái Dương tượng cho người cha, người chồng, nam giới nói chung, và cho danh tiếng. Có sách viết thẳng "tuổi Giáp khắc cha" hay "danh tiếng thăng trầm". Những câu ấy đến từ thời người ta quen đọc ký hiệu theo nghĩa đen. Hôm nay nên hiểu Thái Dương hoá Kỵ như một chủ đề hay bận tâm: quan hệ với cha, với vai trò trụ cột, với chuyện được nhìn nhận. Nó có thể đúng với nhiều người đàn ông bốn mươi, bất kể tuổi gì.
Thái Dương an theo vị trí Tử Vi, tức theo ngày và giờ sinh, nên Hoá Kỵ ở cung nào mỗi người một khác. Thái Dương ở ô sáng (từ Dần tới Ngọ) hay ô tối (từ Thân tới Tý) cũng đổi hẳn cách sách đọc Hoá Kỵ.
Mệnh Hải Trung Kim gặp năm loại cục của can Giáp
Ngũ hổ độn của can Giáp khởi Bính Dần. Cục của nam Giáp Tý tuỳ chi cung Mệnh:
| Cung Mệnh ở | Cục | Tuổi khởi đại vận | Quan hệ với mệnh Kim |
|---|---|---|---|
| Tý, Sửu | Thuỷ nhị cục | 2 | mệnh sinh cục |
| Thìn, Tỵ | Mộc tam cục | 3 | mệnh khắc cục |
| Thân, Dậu | Kim tứ cục | 4 | đồng hành |
| Ngọ, Mùi | Thổ ngũ cục | 5 | cục sinh mệnh |
| Dần, Mão, Tuất, Hợi | Hoả lục cục | 6 | cục khắc mệnh |
Một chi tiết hay bị bỏ sót: nếu Mệnh nam Giáp Tý đóng ngay ô Dần có Lộc Mã, cục là Hoả lục cục, khắc mệnh Kim. Sách xưa vì thế không coi Mệnh ở Dần là "toàn thuận" như người ta tưởng khi chỉ thấy Lộc Mã. Ngược lại Mệnh ở Ngọ hay Mùi thì được Thổ ngũ cục sinh, nhưng ô Ngọ lại gom Khốc, Hư, Tuế Phá. Không có vị trí nào trọn vẹn, và đó mới là điều thú vị khi đọc lá số.
Người sinh năm 1984 năm nay ngoài bốn mươi. Với Thuỷ nhị cục, vận thứ năm ở Quan Lộc bắt đầu từ 42 tuổi; với Hoả lục cục, họ đang ở vận thứ tư tại Điền Trạch và sang Quan Lộc lúc 46.
Nếu đổi sang nữ Giáp Tý: chiều vận và vòng Bác Sĩ lật ngược
Đặt lá số nam và nữ Giáp Tý cạnh nhau, phần theo can và chi trùng khớp: Lộc Mã ở Dần, Kình ở Mão, Đà và Khôi ở Sửu, Việt ở Mùi, Tuần ở Tuất – Hợi, Triệt ở Thân – Dậu, Hồng Loan ở Mão, Đào Hoa ở Dậu. Thứ đổi là những gì phụ thuộc âm dương nam nữ.
Thứ nhất là chiều đại vận. Nam Giáp Tý đi thuận nên vận thứ hai ở Phụ Mẫu, thứ ba ở Phúc Đức; nữ Giáp Tý là dương nữ, đi nghịch, vận thứ hai ở Huynh Đệ, thứ ba ở Phu Thê. Cùng tuổi ba mươi, người nam đang đi qua cung bàn chuyện tinh thần, dòng họ, còn người nữ đi qua cung bàn chuyện bạn đời theo cách sách xếp. Đó là chênh lệch thuần cấu trúc, không mang hàm ý ai may ai rủi.
Thứ hai là vòng Bác Sĩ. Vòng này luôn khởi ở ô Lộc Tồn, nhưng dương nam và âm nữ đi thuận, âm nam và dương nữ đi nghịch. Ở nam Giáp Tý, Lực Sĩ đứng ở Mão cạnh Kình Dương, Thanh Long ở Thìn; ở nữ Giáp Tý, Lực Sĩ lùi về Sửu cạnh Đà La, Thanh Long sang Tý cùng Thái Tuế, còn Quan Phủ lại lên Mão. Một người đọc lá số nam rồi đem lời luận các sao vòng Bác Sĩ áp sang lá số chị gái cùng tuổi sẽ sai gần hết.
Vì vậy bài nam mạng và bài nữ mạng của cùng một tuổi phải tách riêng: phần chung chỉ là bộ sao theo can chi, còn câu chuyện mười năm một của hai người đi theo hai lối khác hẳn.
Những gì năm sinh 1984 chưa cho biết
Có thể liệt kê rõ những phần của lá số mà năm sinh không trả lời được. Cung Mệnh và cung Thân an theo tháng và giờ sinh, nên chưa biết ô Dần có Lộc Mã là cung gì của bạn. Mười bốn chính tinh an theo ngày sinh và cục, nên chưa biết Tử Vi, Thái Dương hay Liêm Trinh đứng đâu, tức là chưa biết bốn sao hoá của can Giáp rơi vào cung nào. Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp an theo giờ; Tả Phụ, Hữu Bật an theo tháng; Hoả Tinh, Linh Tinh an theo năm và giờ.
Nói cách khác, bộ khung trong bài này chiếm chưa tới một phần ba thông tin của một lá số đầy đủ. Nó có ích để kiểm tra lá số in sẵn có đặt đúng các sao theo năm không, và để hiểu những nét chung của cả một lớp người cùng năm sinh. Nó không đủ để nói một người cụ thể ra sao.
Khi đã có giờ sinh, việc đầu tiên nên làm là xem ba ô Dần, Sửu, Mão rơi vào cung nào, vì đó là chỗ các sao theo năm của tuổi Giáp Tý tập trung dày nhất. Việc thứ hai là tìm xem Thái Dương đóng đâu và đang ở ô sáng hay tối, vì Hoá Kỵ của can Giáp nằm ở đó.
Lời sách phổ thông về nam Giáp Tý và cách đặt lại cho người bốn mươi
Sách nhỏ về tuổi thường tả nam Giáp Tý là người thông minh, tháo vát, "tuổi trẻ xa nhà lập nghiệp", "vợ con hoà thuận về sau". Ý "xa nhà" rõ là suy từ Lộc Mã ở Dần; ý "về sau hoà thuận" là khuôn câu dùng cho rất nhiều tuổi khác. Có bản còn xếp tuổi này "hợp" hay "kỵ" với một số tuổi khác để chọn vợ, chọn bạn làm ăn; những lời ấy dựa trên quan hệ giữa các con giáp, không dựa vào lá số đầy đủ của hai người.
Ở tuổi bốn mươi, cách đọc có ích nhất là coi lá số như một bộ câu hỏi: ô Dần có Lộc Mã nhắc mình nghĩ về nhịp đi lại và nguồn thu; ô Mão có Kình và Hồng Loan nhắc chuyện cảm xúc; Thái Dương hoá Kỵ nhắc vai trò người cha, người đứng mũi chịu sào. Lá số không quyết thay ai chuyện đổi nghề, mua nhà hay giữ một mối quan hệ. Nó là một tấm gương cũ, soi được vài góc, còn phần lớn khuôn mặt vẫn phải tự nhìn bằng mắt thật.
Câu hỏi thường gặp
Nam Giáp Tý có Lộc Mã đồng cung không?
Có. Can Giáp đặt Lộc Tồn ở Dần, chi Tý thuộc nhóm Thân Tý Thìn đặt Thiên Mã cũng ở Dần. Mọi lá số tuổi Giáp Tý, cả nam lẫn nữ, đều có Lộc Tồn và Thiên Mã cùng ô Dần, kèm Cô Thần và Tang Môn.
Lộc Mã đồng cung có phải bảo đảm giàu có không?
Không. Sách xưa coi đây là tổ hợp thuận cho việc đi lại làm ăn, nhưng sức nặng tuỳ ô Dần là cung gì và các sao khác. Cùng ô còn có Cô Thần, Tang Môn; và nếu Mệnh ở Dần thì cục lại khắc mệnh. Không nên đọc thành lời hứa.
Thiên Khôi ở Sửu đi cùng Đà La thì sách nói gì?
Không có câu phú riêng, nhưng người xem thường diễn là quý nhân đến chậm, giúp đỡ cần thời gian. Đà La ở Sửu đắc địa nên cái chậm được hiểu theo nghĩa bền bỉ hơn là trở ngại.
Thái Dương hoá Kỵ có nghĩa là quan hệ với cha không tốt?
Không nên hiểu như vậy. Thái Dương tượng cho người cha, vai trò nam giới, danh tiếng; Hoá Kỵ chỉ cho biết đó là chủ đề người này hay bận tâm. Muốn đọc kỹ cần biết Thái Dương ở cung nào và ở ô sáng hay tối.
Nam Giáp Tý và nữ Giáp Tý khác nhau ở đâu trên lá số?
Các sao theo can và chi giống nhau. Khác ở chiều đại vận và vòng Bác Sĩ: nam là dương nam đi thuận, nữ là dương nữ đi nghịch, nên thứ tự mười hai vận và vị trí Lực Sĩ, Thanh Long, Tướng Quân đổi hẳn.
Người sinh năm 1984 cần gì để đọc lá số đầy đủ?
Cần ngày, tháng và giờ sinh âm lịch để an cung Mệnh, cung Thân, cục và mười bốn chính tinh. Năm sinh chỉ cho bộ khung các sao theo năm như bảng trong bài, chưa cho biết sao nào đóng ở cung nào.