Năm nhóm can năm sinh, sáu cặp chi cung Mệnh, ba mươi ô: toàn bộ chuyện tìm ngũ hành cục gói gọn trong một bảng nhỏ như vậy. Muốn tra cục, chỉ cần hai dữ kiện: can của năm sinh và chi của cung an Mệnh. Tìm hàng của can năm (Giáp Kỷ, Ất Canh, Bính Tân, Đinh Nhâm, Mậu Quý), tìm cột của cặp chi cung Mệnh, ô giao nhau là cục. Phía sau bảng là một phép tính hai bước, ngũ hổ độn rồi nạp âm, mà ai cũng có thể tự làm để kiểm lại.
Khái niệm ngũ hành cục, vai trò của nó trên lá số đã có ở các bài nhập môn. Bài này là công cụ tra: bảng đủ ba mươi ô, cách tự tính, hai ví dụ giả định và những chỗ người mới hay nhầm.
Bảng tra cục đủ ba mươi ô
Đọc theo hàng là can năm sinh, theo cột là chi của cung an Mệnh. Mỗi cột gồm hai chi liền nhau vì chúng luôn cho cùng một cục:
| Can năm sinh | Tý, Sửu | Dần, Mão | Thìn, Tỵ | Ngọ, Mùi | Thân, Dậu | Tuất, Hợi |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Thuỷ nhị | Hoả lục | Mộc tam | Thổ ngũ | Kim tứ | Hoả lục |
| Ất, Canh | Hoả lục | Thổ ngũ | Kim tứ | Mộc tam | Thuỷ nhị | Thổ ngũ |
| Bính, Tân | Thổ ngũ | Mộc tam | Thuỷ nhị | Kim tứ | Hoả lục | Mộc tam |
| Đinh, Nhâm | Mộc tam | Kim tứ | Hoả lục | Thuỷ nhị | Thổ ngũ | Kim tứ |
| Mậu, Quý | Kim tứ | Thuỷ nhị | Thổ ngũ | Hoả lục | Mộc tam | Thuỷ nhị |
Nhìn kỹ sẽ thấy hai quy luật. Một: ở mỗi hàng, cột Dần Mão và cột Tuất Hợi luôn trùng cục. Hai: mỗi hàng có đủ năm cục, một cục xuất hiện hai lần (chính ở hai cột vừa nói). Hai quy luật này là hệ quả số học của vòng can chi, và rất tiện để tự kiểm khi chép bảng: hàng nào thiếu một cục hoặc Dần Mão khác Tuất Hợi là đã chép sai.
Vì sao can năm đi thành cặp (Giáp với Kỷ, Ất với Canh…)? Vì hai can cách nhau năm bước cho cùng một can khởi ở tháng Giêng (cung Dần) theo phép ngũ hổ độn. Năm Giáp và năm Kỷ đều bắt đầu từ Bính Dần, nên mọi cung trên lá số của hai năm ấy mang cùng can, dẫn đến cùng cục.
Tự tính cục bằng hai bước
Không có bảng trong tay vẫn tính được. Cách làm như sau:
- Bước một, ngũ hổ độn: tìm can của cung Dần. Năm Giáp hoặc Kỷ: Dần là Bính Dần. Năm Ất hoặc Canh: Mậu Dần. Năm Bính hoặc Tân: Canh Dần. Năm Đinh hoặc Nhâm: Nhâm Dần. Năm Mậu hoặc Quý: Giáp Dần. Người xưa thuộc lòng câu "Giáp Kỷ chi niên Bính tác thủ" cùng bốn câu tương tự cho các cặp còn lại.
- Bước hai, đếm can đến cung Mệnh. Từ Dần đi thuận qua Mão, Thìn, Tỵ… mỗi cung tăng can lên một bậc (Bính, Đinh, Mậu, Kỷ…), cho tới cung có Mệnh. Lưu ý Tý và Sửu là hai cung cuối của vòng tính từ Dần, nên can của chúng nối tiếp sau Hợi, không phải trước Dần.
- Bước ba, tra nạp âm của can chi cung Mệnh. Ví dụ được Canh Ngọ thì nạp âm là Lộ Bàng Thổ; được Quý Hợi thì Đại Hải Thuỷ. Hành của nạp âm chính là hành của cục.
- Bước bốn, gắn cục số. Thuỷ là nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hoả lục cục.
Bước ba cần bảng nạp âm sáu mươi hoa giáp, thứ mà nhiều người đã thuộc qua chuyện "năm sinh mệnh gì". Đúng là cùng một bảng: nạp âm của can chi năm sinh cho bản mệnh, nạp âm của can chi cung Mệnh cho cục. Hai phép dùng chung công cụ nhưng áp vào hai đối tượng khác nhau, đó là lý do bản mệnh và cục thường khác hành.
Hai ví dụ giả định tính từng bước
Ví dụ thứ nhất (giả định): người sinh năm Tân Mùi, cung Mệnh an tại Thân. Năm Tân thuộc cặp Bính Tân nên cung Dần là Canh Dần. Đếm thuận: Mão là Tân Mão, Thìn là Nhâm Thìn, Tỵ là Quý Tỵ, Ngọ là Giáp Ngọ, Mùi là Ất Mùi, Thân là Bính Thân. Bính Thân có nạp âm Sơn Hạ Hoả, vậy cục là Hoả lục cục. Đối chiếu bảng: hàng Bính Tân, cột Thân Dậu, đúng là Hoả lục.
Ví dụ thứ hai (giả định): người sinh năm Mậu Thìn, cung Mệnh an tại Tỵ. Năm Mậu thuộc cặp Mậu Quý nên Dần là Giáp Dần. Mão là Ất Mão, Thìn là Bính Thìn, Tỵ là Đinh Tỵ. Đinh Tỵ có nạp âm Sa Trung Thổ, cục là Thổ ngũ cục. Bảng: hàng Mậu Quý, cột Thìn Tỵ, Thổ ngũ.
Thêm một ví dụ cho trường hợp dễ nhầm: năm Giáp, cung Mệnh tại Tý. Dần là Bính Dần, đếm thuận tới Hợi là Ất Hợi, rồi Tý là Bính Tý (can quay vòng sau Quý về Giáp, Ất, Bính). Bính Tý là Giản Hạ Thuỷ, cục Thuỷ nhị. Người mới hay đếm lùi từ Dần về Sửu, Tý và ra Ất Sửu, Giáp Tý, dẫn tới Hải Trung Kim và kết luận sai là Kim tứ cục. Bảng ở trên giúp phát hiện ngay: hàng Giáp Kỷ, cột Tý Sửu phải là Thuỷ nhị.
Ba ví dụ cho thấy chỗ khó duy nhất của phép tính là hai cung Tý và Sửu. Còn lại chỉ là đếm.
Ngũ hổ độn từ đâu mà có
Tên "ngũ hổ độn" nghĩa đen là phép độn năm con hổ: hổ là Dần, và năm con hổ là năm can có thể đứng trước chữ Dần (Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Dần, Giáp Dần). Phép này vốn không sinh ra cho tử vi. Nó là quy tắc của lịch can chi, dùng để tìm can của tháng Giêng trong một năm, rồi từ đó suy can của mọi tháng.
Lịch can chi xếp tháng Giêng vào chi Dần, theo lối lịch "kiến Dần" mà truyền thống gắn với nhà Hạ. Mười hai tháng chiếm mười hai chi, còn can tháng thì chạy liên tục qua các năm: hết tháng Chạp năm trước (can nào đó Sửu) là tới tháng Giêng năm sau với can kế tiếp. Vì mười can chạy qua mười hai tháng mỗi năm, sau năm năm can tháng mới lặp lại, nên năm Giáp và năm Kỷ (cách nhau năm năm) có tháng Giêng cùng là Bính Dần.
Tử vi đẩu số mượn nguyên quy tắc ấy để gán can cho mười hai cung: cung Dần nhận can của tháng Giêng, các cung sau nhận can của các tháng sau. Cách gán này giải thích vì sao cung Tý, cung Sửu lấy can nối tiếp sau Hợi: trong lịch, tháng Một (Tý) và tháng Chạp (Sửu) là hai tháng cuối năm, đến sau tháng Mười (Hợi).
Hiểu nguồn gốc này giúp nhớ phép tính lâu hơn mọi bảng tra, và cũng cho thấy một đặc điểm của tử vi: nhiều bộ phận của nó là những quy tắc lịch pháp có sẵn, được đem lắp ghép thành một hệ thống mới.
Tra ngược: biết cục, đoán được Mệnh ở đâu
Bảng tra cục còn dùng được theo chiều ngược lại để kiểm một lá số in sẵn. Biết can năm sinh và cục ghi trên lá số, nhìn vào hàng tương ứng sẽ thấy cung Mệnh chỉ có thể nằm ở hai hoặc bốn chi. Ví dụ năm Giáp, lá số ghi Hoả lục cục: hàng Giáp Kỷ có Hoả lục ở cột Dần Mão và cột Tuất Hợi, nên Mệnh phải ở Dần, Mão, Tuất hoặc Hợi. Nếu lá số in Mệnh ở Ngọ mà vẫn ghi Hoả lục cục, chắc chắn có chỗ sai.
Với các cục chỉ xuất hiện một lần trong hàng, phép tra ngược còn hẹp hơn: năm Giáp mà Thuỷ nhị cục thì Mệnh chỉ ở Tý hoặc Sửu. Đây là cách kiểm nhanh khi trong tay chỉ có tờ lá số mà không nhớ giờ sinh đã khai.
Phép tra ngược cũng hữu ích khi đọc sách có ví dụ lá số. Sách cũ đôi khi in sai, nhất là bản chép tay hay bản dịch qua nhiều lần. Một ví dụ ghi "năm Bính, Mệnh tại Thìn, Hoả lục cục" là tự mâu thuẫn, vì hàng Bính Tân cột Thìn Tỵ là Thuỷ nhị. Gặp chỗ như vậy, nên coi cả ví dụ là chưa đáng tin cho tới khi kiểm lại từng sao.
Những lỗi hay gặp khi tra cục
Lỗi thứ nhất là dùng nhầm năm. Can năm sinh phải lấy theo năm âm lịch. Người sinh vào tháng Một, tháng Hai dương lịch trước Tết thuộc năm âm lịch trước; lấy nhầm can là lệch cả hàng trong bảng. Chuyện xác định năm âm lịch đã được nói kỹ ở các bài nền, ở đây chỉ nhắc như một lỗi tra cục.
Lỗi thứ hai là lẫn cục với bản mệnh. Bản mệnh là nạp âm của năm sinh, cục là nạp âm của cung Mệnh. Người sinh năm Giáp Tý có bản mệnh Hải Trung Kim nhưng cục có thể là bất cứ cục nào trong năm cục, tuỳ cung Mệnh. Thấy "mệnh Kim" rồi suy ra "Kim tứ cục" là sai từ gốc.
Lỗi thứ ba là an Mệnh sai. Bảng tra cục chỉ đúng khi cung Mệnh đúng, mà cung Mệnh phụ thuộc tháng và giờ sinh. Sai một giờ, Mệnh dời một cung, có khi sang cột khác của bảng, cục đổi theo, rồi Tử Vi và cả bộ chính tinh đổi theo. Vì thế kiểm cục là một cách kiểm gián tiếp cả phép an Mệnh.
Lỗi thứ tư là chép bảng từ nguồn lỗi. Trên mạng có những bảng tra cục bị lệch cột, thường ở cột Tý Sửu. Hai quy luật ở mục đầu (Dần Mão trùng Tuất Hợi, mỗi hàng đủ năm cục) là cách nhanh nhất để biết bảng mình đang xem có đáng tin không.
Biết cục rồi thì dùng vào đâu
Cục có hai việc cụ thể trên lá số. Việc thứ nhất là làm số chia để an Tử Vi từ ngày sinh: ngày sinh chia cục số, theo quy tắc mượn số, ra vị trí Tử Vi, từ đó an mười bốn chính tinh. Việc thứ hai là định tuổi khởi đại vận: cục số chính là tuổi bắt đầu đại vận thứ nhất. Ngoài hai việc kỹ thuật ấy, cục được các sách dùng để luận quan hệ sinh khắc với bản mệnh, như cục sinh mệnh, mệnh khắc cục.
Với người tự học, giá trị lớn nhất của bảng tra cục là giúp kiểm lá số. Lá số in sẵn đôi khi sai vì nhập nhầm giờ, nhầm năm; một phép tra cục mất chưa tới một phút là đủ phát hiện phần lớn lỗi như vậy. Ngược lại, gán cho cục những ý nghĩa lớn lao về tính cách hay số phận thì vượt quá những gì cục làm được trong chính hệ thống của nó.
Cũng nên nhớ bảng này là một kết quả số học. Nó đẹp, có quy luật, nhưng vẻ đẹp của một phép tính không biến phép tính ấy thành bằng chứng về đời người. Lá số tử vi là hệ biểu tượng văn hoá; hiểu đúng bộ máy của nó là để đọc nó cho chính xác, không phải để giao cho nó những quyết định của đời thực.
Muốn ôn lại cách an cung Mệnh theo tháng và giờ sinh trước khi tra cục, có thể đọc loạt bài nhập môn ở trungtamtuvi.com.
Câu hỏi thường gặp
Tra ngũ hành cục cần những thông tin gì?
Cần hai thông tin: can của năm sinh âm lịch và chi của cung an Mệnh. Cung Mệnh lại do tháng sinh và giờ sinh âm lịch quyết định, nên trên thực tế cần năm, tháng và giờ sinh chính xác.
Vì sao bảng tra cục ghép can năm thành từng cặp?
Vì hai can cách nhau năm bậc cho cùng một can khởi ở cung Dần theo ngũ hổ độn, chẳng hạn năm Giáp và năm Kỷ đều bắt đầu từ Bính Dần. Can mọi cung trên lá số vì vậy giống nhau, nên cục cũng giống nhau.
Bản mệnh Kim thì cục có phải Kim tứ cục không?
Không. Bản mệnh là nạp âm của can chi năm sinh, còn cục là nạp âm của can chi cung Mệnh. Hai thứ dùng chung bảng nạp âm nhưng áp vào hai đối tượng khác nhau, nên thường khác hành.
Làm sao biết bảng tra cục mình xem có chép đúng không?
Có hai cách kiểm nhanh: trên mỗi hàng, cột Dần Mão phải trùng cục với cột Tuất Hợi; và mỗi hàng phải có đủ năm cục, trong đó một cục lặp hai lần. Bảng nào không thoả hai điều này là đã chép sai.
Cung Mệnh ở Tý hoặc Sửu thì tính can thế nào?
Đếm thuận từ cung Dần qua Mão, Thìn cho tới Hợi, rồi tiếp sang Tý, Sửu. Can của Tý và Sửu nối tiếp sau can của Hợi. Đếm lùi từ Dần về Sửu là lỗi phổ biến và cho ra cục sai.
Cục có ý nghĩa gì về tính cách không?
Trong hệ thống tử vi, cục chủ yếu là thông số kỹ thuật để an Tử Vi và định tuổi khởi đại vận. Các sách có luận quan hệ cục với bản mệnh, nhưng gán cho cục những nhận định riêng về tính cách là đi quá vai trò của nó.