ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Cách cục có tên trong sách

Cách Cực hướng ly minh: Tử Vi ở Ngọ thủ Mệnh và vì sao sách nhắc tuổi Giáp, Đinh, Kỷ

Cực hướng ly minh là Tử Vi một mình thủ Mệnh ở Ngọ. Bài giải tên gọi, cấu trúc lá số, tính vì sao câu phú chọn ba can Giáp, Đinh, Kỷ và điều gì làm cách bị phá.

A carved wooden chair facing an open southern window flooded with midday light, dust motes in the air, empty room, deep shadows and gold

Cực hướng ly minh là tên sách tử vi đặt cho trường hợp Tử Vi đứng một mình thủ Mệnh ở cung Ngọ: sao Bắc cực quay mặt về phương Nam sáng sủa. Đây là vị trí đa số bảng xếp Tử Vi miếu địa, và cách này được nhiều sách coi là một trong những cách đẹp nhất của đế tinh. Người có cách được tả là đường hoàng, có uy, có tầm nhìn, được người khác nể.

Một câu phú thường đi kèm, đại ý "Tử Vi ở Ngọ không gặp Hình, Kỵ, người sinh năm Giáp, Đinh, Kỷ thì địa vị lên cao". Câu này hay được chép lại mà ít khi được giải. Bài này giải tên cách, cấu trúc lá số khi Tử Vi ở Ngọ, rồi tính tứ hoá và Lộc Tồn từng can để thấy vì sao câu phú chọn ba can ấy, và vì sao năm Mậu lại thành ngoại lệ đáng chú ý.

Giải tên: cực, ly, minh

"Cực" là Bắc cực tinh, sao đứng yên giữa trời mà các sao khác xoay quanh; trong đẩu số, Tử Vi được coi là hiện thân của sao này, ngôi vua của bầu trời. "Ly" là quẻ Ly trong Bát quái, ứng với phương Nam, với lửa, với ánh sáng; trong mười hai cung, Ngọ là chính Nam, nên Ngọ thuộc Ly. "Minh" là sáng. "Cực hướng ly minh" nghĩa là sao Bắc cực hướng về phương Nam sáng.

Hình ảnh này lấy từ lễ nghi triều đình xưa: vua ngồi quay mặt về hướng Nam để thiết triều, gọi là "nam diện". Sao vua đóng ở cung Nam chính là vua ngồi đúng ngai, đúng hướng. Vì thế các sách coi Tử Vi ở Ngọ là "đắc vị" theo nghĩa trọn vẹn nhất: không chỉ miếu theo bảng, mà còn đúng với biểu tượng.

Cũng có cách giải theo ngũ hành: Tử Vi hành Thổ, Ngọ hành Hoả, Hoả sinh Thổ, nên sao được cung nuôi. Các bản giải không loại trừ nhau; điều chung là cả hình tượng lẫn ngũ hành đều cho Tử Vi ở Ngọ một vị trí thuận lợi.

Cách này hiếm đến đâu? Vị trí Tử Vi được tính từ ngày sinh và số cục, còn vị trí Mệnh tính từ tháng và giờ, hai phép tính khác nhau. Nếu tạm coi mười hai vị trí xuất hiện ngang nhau, một giả định đơn giản hoá, thì chừng một phần mười hai số lá số có Tử Vi ở Ngọ, và trong số ấy chỉ một phần mười hai có Mệnh cũng ở Ngọ: tính ra khoảng một trên một trăm bốn mươi bốn lá số. Thêm điều kiện can năm và không gặp Hình Kỵ, con số còn nhỏ hơn nhiều. Biết điều này giúp người đọc thấy vì sao sách gọi đây là cách quý, đồng thời không đem cách ra so hơn kém giữa người với người

Cấu trúc lá số khi Tử Vi ở Ngọ thủ Mệnh

Khi Tử Vi ở Ngọ, Thiên Phủ ở Tuất. Bảng dưới là toàn bộ mười hai cung (đã kiểm bằng phép an chính tinh):

CungĐịa chiChính tinh
MệnhNgọTử Vi
Huynh ĐệTỵThiên Cơ
Phu ThêThìnThất Sát
Tử TứcMãoThái Dương, Thiên Lương
Tài BạchDầnVũ Khúc, Thiên Tướng
Tật ÁchSửuThiên Đồng, Cự Môn
Thiên DiTýTham Lang
Nô BộcHợiThái Âm
Quan LộcTuấtLiêm Trinh, Thiên Phủ
Điền TrạchDậuVô chính diệu
Phúc ĐứcThânPhá Quân
Phụ MẫuMùiVô chính diệu

Tam phương của Mệnh là Quan Lộc có Liêm Phủ và Tài Bạch có Vũ Tướng; nghĩa là bộ Tử Phủ Vũ Tướng trọn vẹn ở ba góc Mệnh, Tài, Quan. Thiên Phủ và Thiên Tướng đều chiếu về Mệnh, nên đây cũng là một dạng của cách Phủ Tướng triều viên. Đối diện Mệnh là Tham Lang ở Tý, sao giao tế, ham muốn; sách hay nói vua ngồi đúng ngai mà trước mặt là đủ thứ cám dỗ, nên cái quý của cách nằm ở chỗ giữ được mình.

Vì sao câu phú chọn Giáp, Đinh, Kỷ

Tính tứ hoá và Lộc Tồn của từng can trên cấu trúc trên, chỉ ghi những gì rơi vào Mệnh và tam phương tứ chính (Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di):

Can nămLộc vàoKỵ hoặc Kình vàoNhận xét
GiápLộc Tồn ở Tài Bạch; Liêm Trinh hoá Lộc ở Quan Lộc; Vũ Khúc hoá Khoa ở Tài BạchKhông (Thái Dương hoá Kỵ ở Tử Tức)Tam phương có Lộc, có Khoa, không Kỵ
ĐinhLộc Tồn ngay trong MệnhKhông (Cự Môn hoá Kỵ ở Tật Ách)Mệnh có Lộc, Kình Đà đứng hai bên
KỷLộc Tồn trong Mệnh; Vũ Khúc hoá Lộc ở Tài Bạch; Tham Lang hoá Quyền ở Thiên DiKhông trực tiếp (Văn Khúc hoá Kỵ tuỳ giờ)Song Lộc, có Quyền
MậuTham Lang hoá Lộc ở Thiên DiKình Dương ngay trong MệnhCó "Hình" theo nghĩa Kình Dương
BínhLộc Tồn ở Huynh ĐệKình Dương trong Mệnh; Liêm Trinh hoá Kỵ ở Quan LộcVừa có Hình vừa có Kỵ
NhâmTử Vi hoá Quyền trong MệnhVũ Khúc hoá Kỵ ở Tài Bạch; Kình Dương ở Thiên Di, Đà La ở Quan LộcCó Quyền mà tam phương nhiều sát
QuýLộc Tồn ở Thiên DiTham Lang hoá Kỵ cũng ở Thiên DiLộc và Kỵ cùng xung thẳng Mệnh

Kết quả khớp với câu phú khá rõ: ba can Giáp, Đinh, Kỷ đều đưa Lộc vào Mệnh hoặc tam phương mà không đưa Kỵ hay Kình Dương vào đó. Năm Mậu và năm Bính có Lộc Tồn ở Tỵ nên Kình Dương đóng ngay Mệnh, đúng chữ "Hình" mà câu phú bảo tránh; năm Bính còn thêm Liêm Trinh hoá Kỵ ở Quan Lộc. Nhâm và Quý đều có Kỵ ở Tài Bạch hoặc Thiên Di. Các can Ất, Canh, Tân cho kết quả lưng chừng: năm Ất Tử Vi hoá Khoa trong Mệnh nhưng Đà La ở Tài Bạch; năm Canh Vũ Khúc hoá Quyền ở Tài Bạch; năm Tân không có hoá nào vào tam phương nhưng Kình Dương ở Quan Lộc. Một số bản sách chép thêm can khác vào câu phú, nên người đọc thấy khác biệt nhỏ giữa các nguồn là bình thường.

So với Tử Vi ở các vị trí khác

Tử Vi ở Tý. Cũng đứng một mình, đối diện Tham Lang ở Ngọ, tam phương cũng là Tử Phủ Vũ Tướng. Cấu trúc gần như đối xứng với Ngọ, chỉ khác ở chỗ Tý là phương Bắc, thuộc Thuỷ. Sách gọi Tử Vi ở Tý là "vua ở chỗ lạnh", vẫn quý mà kém sáng hơn; Thổ của Tử Vi gặp Thuỷ của Tý cũng không được nuôi như gặp Hoả của Ngọ.

Tử Phủ ở Dần, Thân và Tử Tướng ở Thìn, Tuất. Tử Vi có sao đồng cung, nên uy được chia hoặc được đỡ. Đây là các vị trí sách đánh giá tốt, nhưng không có tên cách riêng như Ngọ; chúng được đọc trong khung chung Tử Phủ Vũ Tướng.

Tử Sát, Tử Tham, Tử Phá. Tử Vi đứng cùng một sao trong bộ Sát Phá Tham. Sách gọi Tử Sát là hoá sát vi quyền, Tử Tham là đào hoa phạm chủ, Tử Phá là vua gặp tướng phá. Ba vị trí này nhiều biến động hơn, sắc thái khác hẳn vẻ đường hoàng của Tử Vi ở Ngọ.

Vì sao Ngọ được chọn làm cách riêng. Ngọ là nơi duy nhất hội đủ ba điều: Tử Vi đứng một mình nên uy không bị chia, miếu theo bảng, và đúng biểu tượng vua quay mặt về Nam. Tý có hai điều đầu nhưng thiếu điều thứ ba. Đó là lý do sách đặt tên cho Ngọ mà không đặt cho Tý.

Những gì làm cách bị phá

Ngoài chuyện can năm, sách còn liệt kê các yếu tố làm "vua ngồi đúng ngai" mà ngai lung lay:

  • Thiên Hình đồng cung: một số sách hiểu chữ "Hình" trong câu phú là Thiên Hình, an theo tháng sinh. Thiên Hình khởi Dậu ứng tháng Giêng, đếm thuận theo tháng, nên Thiên Hình ở Ngọ khi sinh tháng Mười âm lịch.
  • Địa Không, Địa Kiếp, Hoả Tinh, Linh Tinh vào Mệnh: làm Tử Vi mất vẻ đường hoàng; sách nói có uy mà dễ cô độc hoặc nóng vội.
  • Tuần, Triệt án Ngọ: nhiều sách nói vua bị che, có tài mà khó ra mặt, thành tựu đến muộn.
  • Thiếu phụ tá: Tử Vi một mình không có Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc hội thì bị gọi là "cô quân", vua đơn độc. Cách vẫn thành, nhưng sách nói phải tự gánh nhiều.
  • Tham Lang ở Thiên Di gặp Đào Hoa, Hoá Kỵ: sách luận vua bị cám dỗ kéo đi, uy giảm.

Phái nào coi trọng và cách hiểu hôm nay

Cực hướng ly minh có mặt trong hầu hết các bộ sách theo lối Tam hợp, thường đứng đầu danh sách cách quý của Tử Vi. Lối Phi tinh không dùng tên cách, nhưng vẫn đánh giá cao Tử Vi ở Ngọ vì can cung Ngọ phóng hoá thuận lợi trong nhiều trường hợp. Sách phổ thông ở Việt Nam thường chép tên cách cùng câu phú mà không giải, vì vậy người đọc dễ nghĩ mọi người có Tử Vi ở Ngọ đều "quý", trong khi chính câu phú đã giới hạn rất chặt.

Bỏ đi lớp triều đình, cách này mô tả một kiểu người có trung tâm vững: biết mình đứng đâu, làm việc có nguyên tắc, được người khác nhìn vào như chỗ dựa. Cái thử thách sách đặt ra, qua Tham Lang ở Thiên Di, là giữ được trung tâm ấy giữa những lời mời gọi bên ngoài. Đó là một câu hỏi đáng giá cho bất kỳ ai ở vị trí có trách nhiệm.

Như mọi cách cục, đây là một kiểu cấu trúc trong hệ biểu tượng đẩu số, không phải bảo đảm địa vị. Phép tính can năm ở trên cho thấy lời khen của sách dựa trên quy tắc đếm cung; hiểu quy tắc ấy giúp người đọc giữ khoảng cách cần thiết với cả lời khen lẫn lời chê.

Người có Tử Vi ở Ngọ mà không thoả câu phú cũng không cần thấy thiếu: Tử Vi miếu vẫn là Tử Vi miếu, và sách vẫn đọc tính chất đường hoàng của sao ấy, chỉ không gắn thêm lời khen về địa vị

Đọc thử trên một lá số giả định

Lá số giả định để luyện, không ứng với ai: nữ, năm can Kỷ, Mệnh ở Ngọ có Tử Vi.

  1. Lộc Tồn năm Kỷ ở Ngọ, đóng ngay Mệnh cùng Tử Vi. Kình Dương ở Mùi (Phụ Mẫu), Đà La ở Tỵ (Huynh Đệ), kẹp hai bên Mệnh.
  2. Tứ hoá năm Kỷ: Vũ Khúc hoá Lộc ở Tài Bạch (Dần), Tham Lang hoá Quyền ở Thiên Di (Tý), Thiên Lương hoá Khoa ở Tử Tức (Mão), Văn Khúc hoá Kỵ tuỳ giờ sinh.
  3. Giả định sinh giờ Ngọ: Văn Khúc ở Tuất, tức Quan Lộc, mang Hoá Kỵ vào cùng Liêm Phủ. Đây là chỗ cách bị pha một phần.
  4. Ghép lại: Mệnh có Lộc, Tài có Lộc, Thiên Di có Quyền; Quan Lộc có Kỵ của văn tinh. Sách sẽ nói vị thế vững, tiền bạc thuận, nhưng giấy tờ, văn bản trong công việc cần cẩn trọng.
  5. Câu hỏi để tự chuẩn bị: điều gì làm mình thấy đứng vững? Những lời mời gọi bên ngoài nào đang kéo mình khỏi điều mình cho là quan trọng? Công việc giấy tờ của mình đã được kiểm tra kỹ chưa?

Câu hỏi thường gặp

Có Tử Vi ở Ngọ thủ Mệnh là có cách Cực hướng ly minh phải không?

Theo định nghĩa phổ biến, cách thành khi Tử Vi một mình thủ Mệnh ở Ngọ. Nhưng câu phú đi kèm đặt thêm điều kiện không gặp Hình, Kỵ và nhắc ba can Giáp, Đinh, Kỷ. Nhiều sách chỉ coi là cách trọn vẹn khi đủ các điều kiện ấy.

Tử Vi ở Tý có phải là cách tương tự không?

Tử Vi ở Tý cũng đứng một mình, cấu trúc lá số đối xứng, nhưng Tý là phương Bắc, không phải phương Nam sáng. Đa số bảng xếp Tử Vi ở Tý kém hơn ở Ngọ, và sách không gọi vị trí này là Cực hướng ly minh.

Vì sao năm Mậu không được nhắc trong câu phú?

Năm Mậu Lộc Tồn ở Tỵ nên Kình Dương ở Ngọ, đóng ngay Mệnh cùng Tử Vi. Câu phú bảo tránh Hình, và Kình Dương là sao Hình theo nhiều cách hiểu. Năm Bính cũng vậy, lại thêm Liêm Trinh hoá Kỵ ở Quan Lộc. Thú vị là cấu trúc Tử Vi ở Ngọ có Kình Dương đồng cung đồng thời là một dạng của cách Mã đầu đới kiếm, nên có sách luận hai năm này theo hướng khác.

Cực hướng ly minh có phải là lá số làm lãnh đạo không?

Sách xưa gắn cách này với địa vị cao vì Tử Vi là sao vua. Đọc hôm nay, đó là mô tả người có trung tâm vững, làm việc có nguyên tắc. Ai làm lãnh đạo phụ thuộc năng lực, cơ hội và lựa chọn, không phụ thuộc vị trí sao.

Mệnh Tử Vi ở Ngọ mà Thiên Di có Tham Lang hoá Kỵ thì sao?

Năm Quý Tham Lang hoá Kỵ ở Thiên Di, xung thẳng vào Mệnh. Sách coi là cách bị pha, vua bị cám dỗ hoặc thị phi từ bên ngoài kéo đi. Cách dùng thực tế là chú ý những ràng buộc bên ngoài, không phải lo lắng về điềm xấu.

Có thể tự kiểm cách này mà không cần thầy không?

Có. Chỉ cần lá số có vị trí Tử Vi, can năm sinh, và vị trí các sao Kình Dương, Thiên Hình, Không Kiếp, Hoả Linh, Tuần Triệt. Đối chiếu với các điều kiện trong bài là biết cách đủ hay thiếu. Nhưng nhớ rằng đủ điều kiện vẫn chỉ là một kiểu cấu trúc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.