Ba tầng tứ hoá là ba bộ Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ đặt lên cùng một lá số: tầng năm sinh theo can năm sinh, cố định suốt đời; tầng đại vận theo can của cung đại vận, đổi mỗi mười năm; tầng lưu niên theo can của năm đang xét, đổi mỗi năm. Đọc chồng tầng là tìm những cung mà các lớp cùng chỉ tới, nhất là khi Lộc gặp Kỵ, Kỵ chồng Kỵ hay Khoa chồng Khoa, rồi cân nhắc chúng trong bối cảnh sao và cung.
Bài thực hành trên lá số giả định tuổi Mậu Thân, dương nam, Mệnh an tại Tý có Thiên Cơ và Văn Khúc, bị Triệt; Thân cư Thìn; Kim tứ cục nên đại vận khởi từ 4 tuổi và đi thuận. Đại vận được chọn là 44–53 ở cung Thìn; năm ví dụ là năm Quý Tỵ, ứng với tuổi 46 của người tuổi Mậu Thân. Không năm dương lịch nào được gắn vào.
Đặt ba tầng lên lá số mẫu
Năm Mậu cung Dần mang can Giáp, nên cung Thìn mang can Bính. Ba bộ tứ hoá theo bảng thông dụng:
| Tầng | Can | Hoá Lộc | Hoá Quyền | Hoá Khoa | Hoá Kỵ |
|---|---|---|---|---|---|
| Năm sinh | Mậu | Tham Lang ở Tỵ | Thái Âm ở Thìn | Hữu Bật ở Thìn | Thiên Cơ ở Tý |
| Đại vận 44–53 | Bính | Thiên Đồng ở Thân | Thiên Cơ ở Tý | Văn Xương ở Dần | Liêm Trinh ở Tỵ |
| Lưu niên Quý Tỵ | Quý | Phá Quân ở Sửu | Cự Môn ở Ngọ | Thái Âm ở Thìn | Tham Lang ở Tỵ |
Chỉ cần nhìn cột cuối và cột đầu là thấy cung Tỵ nổi bật: Lộc năm sinh của Tham Lang, Kỵ đại vận của Liêm Trinh, và Kỵ lưu niên lại rơi đúng vào Tham Lang. Cung Thìn, nơi đại vận đóng, có Quyền và Khoa năm sinh, thêm Khoa lưu niên. Cung Tý (Mệnh) có Kỵ năm sinh và Quyền đại vận trên cùng một sao Thiên Cơ.
Tỵ là cung Nô Bộc gốc, có Liêm Trinh, Tham Lang và Lộc Tồn. Năm Quý Tỵ có chi Tỵ, nên lưu Thái Tuế cũng đóng ở Tỵ. Nói cách khác, cung của năm theo lưu Thái Tuế trùng đúng chỗ tứ hoá chồng nhiều lớp nhất. Nếu theo tiểu hạn (tuổi Thân khởi tại Tuất, nam đi thuận), tuổi 46 tiểu hạn ở Mùi, cung Tật Ách gốc có Thiên Tướng, Thiên Việt; người đọc theo tiểu hạn sẽ có trọng tâm khác.
Đọc cung Tỵ: Lộc năm sinh gặp hai lớp Kỵ
Theo sách, Hoá Lộc là sự lưu thông, cơ hội, nguồn lợi; Hoá Kỵ là chỗ vướng, chỗ phải bỏ nhiều công sức, có khi là sự ám ảnh, bám chấp. Cung Tỵ mang Lộc gốc của Tham Lang, tức đề tài quan hệ rộng, ham muốn, trải nghiệm vốn là một nguồn lợi trong lá số, đặt ở cung Nô Bộc là quan hệ với người cùng làm, bạn bè, cộng sự.
Đại vận Thìn phát Kỵ vào Liêm Trinh cùng cung; năm Quý lại hoá Kỵ chính Tham Lang, sao đang mang Lộc gốc. Người đọc theo các phái coi trọng tứ hoá sẽ nói đây là chỗ "Lộc gặp Kỵ" ở hai tầng, và "Kỵ chồng Kỵ" giữa tầng vận và tầng năm. Lời đọc thường thấy là: chính nguồn lợi từ các mối quan hệ trở thành chỗ cần cân nhắc; một mối hợp tác vốn thuận có thể phát sinh vướng mắc về nguyên tắc (Liêm Trinh) và về kỳ vọng (Tham Lang).
Đọc mặt thuận: Lộc vẫn còn đó. Kỵ chồng lên không xoá Lộc, mà đặt ra yêu cầu quản lý. Với Lộc Tồn cũng đóng ở Tỵ, người đọc có thể hiểu nguồn lực từ quan hệ vẫn vững, chỉ cần đặt ra quy tắc rõ hơn. Không có lời đọc nào ở đây nói về một người cụ thể sẽ làm gì; đó là chỗ người cầm lá số tự xét các mối quan hệ của mình.
Đọc cung Thìn và cung Tý: Khoa chồng Khoa, Quyền đi cùng Kỵ
Cung Thìn là cung đại vận và cũng là cung an Thân, có Thái Âm mang Quyền năm sinh, Hữu Bật mang Khoa năm sinh, cùng Đà La. Năm Quý thêm Thái Âm hoá Khoa. Thái Âm như vậy mang Quyền (tầng năm sinh) và Khoa (tầng lưu niên) cùng lúc. Sách đọc Khoa là danh tiếng, uy tín, sự được công nhận, thường kèm sự điềm đạm; Quyền là năng lực điều hành, quyết đoán. Đặt ở cung Quan Lộc gốc, đây là chỗ sáng của năm về mặt công việc. Đà La đi cùng nhắc rằng sự công nhận ấy đến từ quá trình bền bỉ, không đến nhanh.
Cung Tý là Mệnh gốc, có Thiên Cơ mang Kỵ năm sinh, thêm Quyền của đại vận; Mệnh lại bị Triệt. Thiên Cơ là sao của tính toán, kế hoạch, sự linh hoạt; Kỵ năm sinh gợi xu hướng nghĩ nhiều, đổi ý. Quyền của vận đặt lên đó được đọc là mười năm này đòi hỏi biến khả năng tính toán thành quyết định. Theo quan niệm Tuần Triệt của sách Việt, Triệt ở Mệnh làm giảm cả hai lớp, nhất là ở nửa đầu đời.
Tý cũng nằm trong tam phương của cung vận Thìn (cùng Thân, nơi có Thiên Đồng hoá Lộc của vận). Như vậy trục vận có Lộc ở Thân, Quyền ở Tý, Quyền Khoa ở chính cung Thìn, trong khi lớp Kỵ của vận và năm dồn về Tỵ, ngoài trục vận. Đây là một bức tranh có cấu trúc khá rõ: công việc và vị thế ổn, quan hệ hợp tác cần chăm chút.
Nguyên tắc cân nhắc khi các tầng chồng nhau
Tầng nào nặng hơn. Các phái không thống nhất. Một cách hiểu phổ biến coi tầng năm sinh là nền, tầng đại vận là bối cảnh mười năm, tầng lưu niên là điểm kích hoạt; chỗ có cả ba tầng cùng chỉ tới thì đáng xét nhất. Tam hợp truyền thống ở Việt Nam thường chỉ dùng tầng năm sinh và tầng lưu niên.
Cùng sao hay cùng cung. Kỵ chồng Kỵ trên cùng một sao (như Tham Lang mang Lộc gốc rồi Kỵ năm) thường được bàn khác với hai Kỵ của hai sao khác nhau trong cùng cung (Liêm Trinh Kỵ vận, Tham Lang Kỵ năm). Ở lá số mẫu, cung Tỵ có cả hai kiểu, vì thế mới được chọn làm ví dụ.
Đóng hay chiếu. Hoá đóng trong cung được coi nặng hơn hoá chiếu từ tam phương. Kỵ ở Tỵ chiếu sang Hợi (cung xung, Huynh Đệ gốc) và vào tam phương của Dậu, Sửu; người đọc nên ghi các cung nhận chiếu, nhưng đánh dấu mức nhẹ hơn.
Dị bản can. Ba can trong ví dụ (Mậu, Bính, Quý) ít dị bản. Nếu một tầng rơi vào can Canh hoặc can Nhâm, phải ghi rõ bảng dùng, vì vị trí Khoa hoặc Kỵ có thể đổi.
Không cộng điểm. Đếm "ba Lộc, hai Kỵ" rồi kết luận năm tốt hay xấu là cách đọc máy móc. Mỗi hoá có nghĩa theo sao và cung của nó.
Vì sao lá số mẫu "đậm" hơn bình thường, và điều đó dạy gì
Lá số và năm ví dụ được chọn để có nhiều lớp chồng nhau trong một cung, giúp minh hoạ rõ. Ở phần lớn các năm của phần lớn lá số, ba tầng tứ hoá rải ra nhiều cung khác nhau, ít khi dồn vào một chỗ. Người mới học hay có xu hướng đi tìm những chỗ dồn như vậy rồi coi đó là "điểm nóng". Thực ra, với mười hai cung và mười hai hoá mỗi năm, việc một vài cung nhận hai lớp là chuyện bình thường về mặt xác suất.
Có thể ước lượng nhanh: mỗi tầng đặt bốn hoá lên bốn sao, ba tầng là mười hai hoá. Vì một số sao thường được hoá ở nhiều can (Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Văn Xương, Văn Khúc xuất hiện ở nhiều dòng của bảng), khả năng hai tầng trúng cùng một cung là khá cao. Nhận ra điều đó, người đọc sẽ bớt coi mỗi chỗ chồng lớp là một dấu hiệu đặc biệt.
Một điều nữa: tầng lưu niên theo can năm, nên mọi người cùng sinh một năm, cùng đại vận, sẽ có cùng ba tầng tứ hoá trong năm đó. Lời đọc dựa trên ba tầng vì thế mô tả một nhóm rất lớn người, không phải một cá nhân. Lá số là một hệ biểu tượng để suy ngẫm; nó không có thông tin về hoàn cảnh, lựa chọn hay sức khoẻ thật của ai.
Muốn ôn lại ý nghĩa từng hoá và bảng tứ hoá theo mười can ở mức khái niệm, có thể đọc loạt bài về tứ hoá ở trungtamtuvi.com trước khi tự lập bảng ba tầng cho lá số của mình.
Lập bảng ba tầng cho lá số của mình và đổi thành câu hỏi
Quy trình gọn cho người tự học, áp dụng được cho bất kỳ năm nào:
- Ghi can năm sinh và tra bốn sao hoá theo bảng mình chọn; đánh dấu vị trí trên lá số.
- Xác định đại vận đang chạy, tính can của cung vận theo Ngũ hổ độn, tra bộ tứ hoá thứ hai.
- Lấy can của năm đang xét, tra bộ tứ hoá thứ ba.
- Lập bảng như ở đầu bài, rồi khoanh những cung có từ hai lớp trở lên, ghi rõ là cùng sao hay khác sao.
- Với mỗi cung khoanh, viết một câu hỏi theo đề tài của cung gốc và tính chất của sao. Ví dụ với cung Tỵ của lá số mẫu: các mối hợp tác hiện có đã có thoả thuận rõ về quyền lợi và trách nhiệm chưa?
- Đặt câu hỏi cho cả chỗ sáng, như cung Thìn của lá số mẫu: mình muốn được ghi nhận vì điều gì trong công việc năm nay, và cần chuẩn bị gì?
Bảng ba tầng nếu dùng đúng sẽ là một công cụ tự vấn: mỗi năm một trang, vài câu hỏi, không lời phán. Đó là cách giữ cho môn học cổ này có ích mà không trói buộc người đọc.
Câu hỏi thường gặp
Có nhất thiết phải đọc đủ ba tầng tứ hoá không?
Không. Tam hợp truyền thống ở Việt Nam chủ yếu dùng tầng năm sinh và tầng lưu niên. Tầng đại vận được dùng nhiều ở Phi tinh và một số phái Đài Loan. Người tự học có thể bắt đầu với hai tầng, rồi thêm tầng thứ ba khi đã quen.
Kỵ chồng Kỵ có phải là năm rất xấu?
Sách coi đó là chỗ đáng chú ý, nhưng không phải lời phán. Ý nghĩa tuỳ sao hoá Kỵ, cung gốc và các sao đi kèm. Hơn nữa những chồng lớp như vậy xảy ra với mọi người cùng năm sinh trong cùng đại vận, nên không mang ý nghĩa riêng cho một ai.
Lộc gặp Kỵ trong cùng một cung nên hiểu thế nào?
Một cách hiểu phổ biến là cơ hội có nhưng đi kèm điều kiện, ràng buộc hoặc công sức. Lộc không bị xoá; nó đòi hỏi quản lý. Người đọc nên chuyển thành câu hỏi về cách mình sử dụng và bảo vệ nguồn lợi trong đề tài của cung đó.
Vì sao năm Quý Tỵ được chọn làm ví dụ?
Vì trên lá số mẫu, năm Quý cho Tham Lang hoá Kỵ ngay trên sao mang Lộc gốc, đại vận Thìn lại phát Kỵ vào cùng cung, và chi Tỵ đặt lưu Thái Tuế đúng chỗ ấy. Năm được chọn để minh hoạ nhiều lớp chồng nhau, không phải để đoán vận cho người sinh năm Mậu Thân.
Tứ hoá lưu niên đổi vào Tết hay vào ngày lập xuân?
Đa số người đọc tử vi đẩu số tính năm theo âm lịch, đổi vào Tết. Một số người dùng mốc lập xuân như trong bát tự. Đây là quy ước; chọn một mốc và giữ nhất quán, nhất là với những tháng giáp Tết.
Có thể dùng bảng ba tầng để chọn năm khởi sự không?
Không nên. Bảng ba tầng chỉ sắp xếp các biểu tượng theo chu kỳ can chi. Việc khởi sự nên dựa trên kế hoạch, nguồn lực, thị trường và ý kiến chuyên môn. Bảng chỉ hữu ích như một danh sách câu hỏi gợi ý khi rà lại kế hoạch.