ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Mệnh, cục, âm dương trên lá số

Bản mệnh và chính tinh thủ Mệnh: sinh khắc giữa nạp âm năm sinh và hành của sao

Sách hay xét hành của chính tinh ở cung Mệnh sinh hay khắc bản mệnh. Bài có bảng hành 14 chính tinh kèm dị bản, năm ví dụ lá số giả định và lý do lớp này chỉ là lớp phụ.

Fourteen smooth river stones of different colours laid in a loose circle on a woven bamboo mat, a hand turning one stone, soft morning light

Một lớp đọc quen thuộc trong sách Việt Nam là so hành nạp âm của năm sinh (bản mệnh) với hành của chính tinh đóng ở cung Mệnh. Sao sinh bản mệnh được coi là thuận, bản mệnh khắc sao được nói là sao "giảm lực", sao khắc bản mệnh được nói là phải chịu sức ép. Lớp này có thật trong sách, nhưng nó đứng sau độ sáng của sao (miếu, hãm), tứ hoá và tam phương; và hành của vài chính tinh còn có dị bản.

Bài này đưa bảng hành của mười bốn chính tinh theo cách ghi phổ biến, chỉ rõ những sao có dị bản, đọc thử năm lá số giả định với năm kiểu quan hệ, và giải thích vì sao lớp sinh khắc này không nên được đọc như một lời phán riêng lẻ.

Hành của mười bốn chính tinh và dị bản

Bảng dưới theo cách ghi phổ biến trong sách tử vi lưu hành ở Việt Nam. Cột dị bản ghi những chỗ các sách khác nhau:

Chính tinhHành phổ biếnDị bản đáng biết
Tử Vi, Thiên PhủThổThống nhất
Thiên CơMộcThống nhất
Thái DươngHoảThống nhất
Vũ KhúcKimThống nhất
Thiên Đồng, Thái Âm, Thiên Tướng, Phá QuânThuỷThống nhất
Liêm TrinhHoảCó sách ghi Mộc kiêm Hoả
Tham LangThuỷCó sách ghi Mộc, hoặc Thuỷ kiêm Mộc
Cự MônThuỷCó sách ghi Thổ
Thiên LươngMộcCó sách ghi Thổ
Thất SátKimCó sách ghi Hoả kiêm Kim

Năm sao có dị bản (Liêm Trinh, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Lương, Thất Sát) là những sao mà quan hệ với bản mệnh có thể đổi ngược tuỳ sách. Ví dụ bản mệnh Kim gặp Thiên Lương: nếu Lương là Mộc thì bản mệnh khắc sao, nếu Lương là Thổ thì sao sinh bản mệnh. Người đọc nên ghi rõ mình theo bảng nào.

Ngoài hành, mỗi sao còn được ghi là âm hay dương (Thái Dương dương Hoả, Thái Âm âm Thuỷ…). Phần âm dương này ít được dùng trong lớp sinh khắc với bản mệnh, nên bài không đi sâu.

Sách luận năm quan hệ ra sao

Lối luận phổ biến chia năm trường hợp. Sao sinh bản mệnh: sao "nuôi" người, tính chất tốt của sao dễ phát huy, ví như được trợ lực. Bản mệnh sinh sao: người phải bỏ sức cho sao, nên có sách nói "hao", có sách lại nói người làm chủ được sao. Bản mệnh khắc sao: người chế ngự được sao, sao kém lực; nếu sao tốt thì tiếc, nếu sao dữ thì lại hay. Sao khắc bản mệnh: sao đè lên người, tính chất dữ của sao dễ lộ. Cùng hành: bình hoà, sao và người hợp nhau.

Lời luận ấy luôn được nói kèm điều kiện. Một sao miếu vượng mà khắc bản mệnh vẫn được đánh giá cao hơn một sao hãm địa mà sinh bản mệnh. Sách cũng nhắc rằng nếu cung Mệnh có hai chính tinh, phải xét cả hai, và chúng có thể cho hai quan hệ trái nhau. Thêm vào đó, cục cũng có quan hệ sinh khắc riêng với bản mệnh. Nhiều lớp chồng lên nhau như vậy nên ít khi một lớp quyết định được điều gì.

Người đọc hôm nay có thể giữ hình ảnh "sao như người đồng hành, bản mệnh như chất liệu của mình": có người đồng hành nâng đỡ, có người đồng hành đòi hỏi. Hình ảnh ấy dễ hiểu và vô hại. Điều không nên làm là biến nó thành phán xét, kiểu "sao khắc mệnh nên đời lận đận".

Năm lá số giả định, năm kiểu quan hệ

Các lá số dưới đây đều GIẢ ĐỊNH, an theo phép an sao chuẩn. Mỗi dòng ghi năm sinh, bản mệnh, cung Mệnh, chính tinh và quan hệ theo bảng hành phổ biến:

Lá số giả địnhBản mệnhMệnh tại, chính tinhQuan hệ
Nam Bính Dần, tháng 3, ngày 12, giờ ThìnLư Trung HoảTý: Thiên Cơ (Mộc)Sao sinh bản mệnh
Nam Ất Sửu, tháng 7, ngày 4, giờ ThânHải Trung KimTý: Vũ Khúc (Kim), Thiên Phủ (Thổ)Vũ Khúc bình hoà, Thiên Phủ sinh bản mệnh
Nam Mậu Thân, tháng 6, ngày 22, giờ HợiĐại Trạch ThổThân: Thái Dương (Hoả), Cự Môn (Thuỷ)Thái Dương sinh bản mệnh, bản mệnh khắc Cự Môn
Nữ Đinh Mão, tháng 8, ngày 20, giờ DậuLư Trung HoảTý: Cự Môn (Thuỷ)Sao khắc bản mệnh
Nữ Quý Mão, tháng 12, ngày 18, giờ TỵKim Bạch KimThân: vô chính diệu, mượn Thiên Đồng, Thiên Lương ở DầnBản mệnh sinh Thiên Đồng; với Thiên Lương tuỳ dị bản

Dòng thứ ba cho thấy chỗ khó: Cự Môn theo bảng phổ biến là Thuỷ, bị bản mệnh Thổ khắc; nhưng theo sách ghi Cự Môn là Thổ thì lại bình hoà. Dòng cuối còn khó hơn: cung Mệnh không có chính tinh, phải mượn sao cung đối diện, và một trong hai sao mượn có dị bản về hành. Một người theo bảng này, một người theo bảng kia sẽ đọc lá số ấy theo hai hướng.

Dòng thứ hai lại cho thấy chuyện hai chính tinh cùng cung: một sao bình hoà, một sao sinh bản mệnh. Ở đây hai quan hệ cùng chiều thuận, nên người luận theo sách sẽ nói khá êm; nhưng đó vẫn chỉ là một lớp nhỏ trong lá số.

Hành của sao từ đâu mà có

Khi giới thiệu từng chính tinh, các sách tử vi thường mở đầu bằng vài thuộc tính cố định: sao thuộc chòm Bắc Đẩu hay Nam Đẩu, âm hay dương, hành gì, "hoá khí" là gì (Tử Vi hoá khí là tôn quý, Vũ Khúc là tài, Cự Môn là ám…). Hành của sao nằm trong nhóm thuộc tính này, và phần lớn được gán theo hình tượng của sao.

Có những gán ghép rất dễ hiểu: Thái Dương là mặt trời nên thuộc Hoả, Thái Âm là mặt trăng nên thuộc Thuỷ, Vũ Khúc là sao tài, gắn với vàng bạc, nên thuộc Kim, Tử Vi là sao đế, ngồi giữa như đất trung tâm, nên thuộc Thổ. Những sao có tính chất phức tạp hơn thì các sách ghi khác nhau, và đó chính là nguồn gốc của các dị bản: Tham Lang vừa là ham muốn vừa là sự lanh lợi, Liêm Trinh vừa là kỷ cương vừa là nóng nảy, nên mỗi dòng sách nhấn một mặt.

Hiểu như thế thì thấy hành của sao không phải một đại lượng đo được, mà là một lựa chọn biểu tượng. Lấy một lựa chọn biểu tượng (hành của sao) so với một lựa chọn biểu tượng khác (nạp âm năm sinh, vốn cũng là một hệ quy ước riêng) rồi rút ra kết luận về đời người là đặt quá nhiều trọng lượng lên những sợi chỉ rất mảnh. Đó không phải lý do để bỏ lớp này, chỉ là lý do để đọc nó nhẹ tay.

Vì sao độ sáng của sao quan trọng hơn sinh khắc

Trong hầu hết sách kinh điển, điều đầu tiên được hỏi về một chính tinh là nó đứng ở đâu: miếu, vượng, đắc địa, bình hoà hay hãm. Độ sáng này phụ thuộc vị trí cung trên vòng mười hai chi, không phụ thuộc bản mệnh. Một Thái Dương ở Ngọ được coi là rực rỡ, một Thái Dương ở Hợi được coi là đã lặn, bất kể người đó mệnh gì.

Lấy ví dụ một lá số giả định nam năm Đinh Hợi (bản mệnh Ốc Thượng Thổ), cung Mệnh tại Hợi có Thái Dương. Xét sinh khắc: Thái Dương Hoả sinh bản mệnh Thổ, rất thuận. Xét độ sáng: Thái Dương ở Hợi là hãm. Phần lớn người luận theo sách sẽ đặt độ sáng lên trước, nói Thái Dương ở đây không đủ sức để "sinh" ai nhiều. Lớp sinh khắc lúc ấy chỉ còn là một ghi chú nhỏ.

Tứ hoá cũng nặng hơn. Một sao hoá Kỵ dù sinh bản mệnh vẫn được đọc theo tính chất của Kỵ; một sao hoá Lộc dù bị bản mệnh khắc vẫn được đọc theo tính chất của Lộc. Rồi còn tam phương tứ chính chiếu về, Tuần Triệt, sát tinh đồng cung. Nếu xếp các lớp theo trọng lượng mà đa số sách ngầm thừa nhận, sinh khắc giữa bản mệnh và sao nằm ở gần cuối.

Hiểu thứ bậc này giúp tránh một kiểu đọc rất phổ biến trên mạng: lấy bản mệnh, nhìn sao ở Mệnh, so sinh khắc, rồi kết luận tốt xấu cho cả đời. Lối ấy nhanh, nhưng bỏ qua gần hết những gì chính hệ thống tử vi coi là quan trọng.

Khi hai chính tinh trong Mệnh khắc nhau

Có những cặp chính tinh đồng cung mà hành của chúng khắc nhau: Thái Dương (Hoả) với Cự Môn (Thuỷ) ở Dần Thân, Vũ Khúc (Kim) với Tham Lang (Thuỷ hoặc Mộc tuỳ dị bản) ở Sửu Mùi, Liêm Trinh (Hoả) với Thất Sát (Kim) ở Sửu Mùi. Một số người luận cho rằng cặp sao "nội khắc" như vậy tạo ra giằng co bên trong cung, rồi lại xét tiếp quan hệ của từng sao với bản mệnh.

Lá số giả định nam Mậu Thân ở bảng trên là ví dụ: Thái Dương và Cự Môn cùng ở cung Mệnh tại Thân. Hoả và Thuỷ khắc nhau; bản mệnh Thổ lại được Thái Dương sinh và khắc Cự Môn. Người thích dựng chuyện từ ngũ hành có thể kể rất dài về lá số này. Nhưng cũng chính cặp Cự Nhật ở Dần Thân được sách bàn như một cách cục có tên riêng, với điều kiện thành cách dựa vào độ sáng của Thái Dương (ở Dần sáng hơn ở Thân), chứ không dựa vào sinh khắc.

Ví dụ ấy cho thấy khi một tổ hợp sao có chương riêng trong sách, người xưa luận nó bằng cấu trúc và độ sáng; sinh khắc ngũ hành chỉ được dùng như lời giải thích thêm. Người đọc hôm nay nên theo đúng thứ bậc đó.

Đọc lớp này cho vừa mức

Nếu muốn dùng lớp sinh khắc, cách hợp lý là coi nó như sắc thái. Sao sinh bản mệnh: hình ảnh người dễ nhận ra và dùng điểm mạnh của sao trong mình. Sao khắc bản mệnh: hình ảnh người phải tập làm quen với những nét khó của sao, ví như Cự Môn là lời nói, Thất Sát là sự quyết liệt. Đọc như thế, lớp này trở thành một câu hỏi tự soi thay vì một nhãn dán.

Cũng nên luôn ghi chú bảng hành mình dùng. Khi lá số có Liêm Trinh, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Lương hay Thất Sát ở Mệnh, hãy viết ra cả hai khả năng theo hai dị bản. Việc thấy cùng một lá số đọc ra hai chiều ngược nhau tự nó là một bài học: lớp này không đủ chắc để làm nền cho kết luận nào.

Sau cùng, lá số là một hệ biểu tượng do người xưa xây dựng để nói chuyện đời người bằng ngôn ngữ sao, cung và ngũ hành. Nó có giá trị như một di sản văn hoá và như một tấm gương gợi câu hỏi. Không có lớp sinh khắc nào trong đó nên được dùng làm lý do cho những quyết định thật như chọn nghề, chọn bạn đời hay chọn nơi sống.

Một gợi ý thực hành: khi đọc sách về một sao, đánh dấu riêng những câu nói về độ sáng, những câu nói về tứ hoá, và những câu nói về sinh khắc với bản mệnh. Sẽ thấy nhóm câu thứ ba ít hơn hẳn, và thường được viết kèm chữ "cũng", "thêm", như một lớp trang trí. Đó là cách chính sách vở cho thấy thứ bậc của nó.

Câu hỏi thường gặp

Chính tinh sinh bản mệnh có phải lá số tốt không?

Không thể kết luận như vậy. Sinh khắc giữa sao và bản mệnh là lớp phụ; độ sáng của sao, tứ hoá, tam phương và sát tinh có trọng lượng hơn nhiều. Một sao hãm địa sinh bản mệnh vẫn được đọc kém hơn sao miếu vượng khắc bản mệnh.

Hành của Cự Môn là Thuỷ hay Thổ?

Phần lớn sách lưu hành ở Việt Nam ghi Cự Môn thuộc Thuỷ, một số sách ghi Thổ. Đây là dị bản thật, nên khi luận quan hệ Cự Môn với bản mệnh cần ghi rõ theo bảng nào, và chấp nhận rằng hai bảng cho hai kết quả.

Cung Mệnh có hai chính tinh thì xét sinh khắc thế nào?

Xét từng sao một. Hai sao có thể cho hai quan hệ cùng chiều hoặc trái chiều với bản mệnh. Khi trái chiều, các sách thường dựa vào độ sáng và tứ hoá để quyết định sao nào nặng hơn, không có quy tắc cứng.

Cung Mệnh vô chính diệu thì so với sao nào?

Nhiều phái mượn chính tinh ở cung xung chiếu (cung Thiên Di) để đọc, nên cũng so bản mệnh với các sao mượn đó. Có phái coi sao mượn chỉ có một phần lực, nên lớp sinh khắc càng nhẹ.

Sao khắc bản mệnh có phải điềm xấu không?

Không. Đó chỉ là quan hệ ngũ hành giữa hai ký hiệu. Sách nói tính chất của sao dễ lộ rõ, có thể hiểu là người cần làm quen với những nét mạnh và khó của sao ấy. Không có cơ sở để coi đây là điềm báo.

Có nên dựa vào sinh khắc sao và bản mệnh để chọn nghề không?

Không nên. Lớp này là chi tiết văn hoá trong cách đọc lá số, không phải công cụ hướng nghiệp. Chọn nghề cần dựa vào năng lực, sở thích, điều kiện thực tế và lời khuyên của người có chuyên môn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.