ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Cách cục có tên trong sách

Cách Tả Hữu đồng cung thủ Mệnh: giờ Tuất, Thân cư Tài Bạch và Địa Không đi kèm

Tả Phù, Hữu Bật cùng thủ Mệnh chỉ khi sinh tháng 4 hoặc 10 âm lịch, giờ Tuất. Bài tính hệ quả: Thân cư Tài Bạch, Xương Khúc, Không Kiếp rơi đâu, cách đọc.

Two pairs of hands steadying the same wooden ladder against an old tiled roof at sunset, one climber visible only by shoes, warm backlight

Tả Phù và Hữu Bật chỉ đứng chung một cung khi sinh tháng Tư (cùng ở Mùi) hoặc tháng Mười âm lịch (cùng ở Sửu). Muốn hai sao ấy cùng thủ Mệnh, người đó còn phải sinh giờ Tuất, vì chỉ giờ Tuất mới đưa cung Mệnh về đúng chỗ Tả Hữu đang đứng. Sách tử vi khen cách này bằng câu phú quen thuộc "Tả Hữu đồng cung, phi la y tử", đại ý khoác áo lụa tía, hình ảnh của người có địa vị và được nhiều người giúp.

Bài về Quân thần khánh hội đã nói chuyện Tả Hữu hội về Tử Vi. Bài này đi theo hướng khác: coi Tả Hữu đồng cung là một cách riêng, không cần Tử Vi, rồi tính hết hệ quả của điều kiện "tháng Tư hoặc tháng Mười, giờ Tuất" lên các sao khác. Kết quả có vài điều bất ngờ: cung Thân luôn ở Tài Bạch, và với người tháng Mười, Địa Không đóng ngay trong Mệnh.

Tả Phù, Hữu Bật là ai trong hệ sao

Tả Phù và Hữu Bật là hai phụ tinh, tên lấy từ chức quan "tả phụ", "hữu bật" thời xưa, những người đứng hai bên vua giúp việc. Sách gọi hai sao này là trợ tinh: chủ về sự giúp đỡ, người cộng tác, khả năng tập hợp người. Tả Phù được tả là mạnh mẽ, chủ động hơn; Hữu Bật mềm mỏng, kín đáo hơn. Khi đứng riêng, mỗi sao giúp một phần; khi đứng chung, sách nói sức giúp được nhân lên.

Điểm đáng chú ý là Tả Hữu không chọn chính tinh. Chúng an theo tháng sinh, không phụ thuộc vị trí Tử Vi, nên có thể đi cùng bất kỳ bộ sao nào. Sách nói Tả Hữu "tốt với sao tốt, giúp cả sao xấu": đi với chính tinh mạnh thì thành người làm lớn có đội ngũ, đi với sát tinh thì thành người có phe cánh trong cạnh tranh. Tả Hữu không làm đổi bản chất chính tinh, chỉ làm nó có thêm sức.

Trong một số dị bản tứ hoá, Tả Phù hoá Khoa ở can Nhâm (thay cho Thiên Phủ), Hữu Bật hoá Khoa ở can Mậu (thay cho Thái Dương). Theo bảng phổ biến, hai sao này không hoá Kỵ ở can nào. Vì thế sách hiếm khi luận xấu Tả Hữu tự thân; cái làm Tả Hữu giảm sức là sao đi kèm.

Phép tính: tháng, giờ và những gì rơi theo

Tả Phù đếm thuận từ Thìn, Hữu Bật đếm nghịch từ Tuất theo tháng sinh. Cung Mệnh khởi Dần là tháng Giêng, đếm thuận tới tháng sinh, rồi đếm nghịch theo giờ; cung Thân đếm thuận theo giờ. Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp an theo giờ. Tính cho giờ Tuất:

MụcTháng Tư, giờ TuấtTháng Mười, giờ Tuất
Tả Phù, Hữu BậtCùng ở MùiCùng ở Sửu
Cung MệnhMùiSửu
Cung ThânMão, tức Tài BạchDậu, tức Tài Bạch
Văn Xương, Văn KhúcTý và Dần (Nô Bộc, Tật Ách)Tý và Dần, giáp hai bên Mệnh
Địa KhôngSửu, tức Thiên DiSửu, ngay trong Mệnh
Địa KiếpDậu, tức Phúc ĐứcDậu, tức Tài Bạch

Bảng cho thấy hai trường hợp nhìn thì đối xứng mà nội dung khác nhau rõ. Người tháng Mười có Tả Hữu cùng Địa Không trong Mệnh, Xương Khúc giáp hai bên, Địa Kiếp ở Tài Bạch kiêm cung Thân. Người tháng Tư có Mệnh sạch sát tinh hơn, Địa Không chiếu từ Thiên Di sang. Cả hai đều có Thân cư Tài Bạch, nên sách sẽ nói đời sống càng về sau càng xoay quanh chuyện tạo dựng của cải. Đây là những hệ quả mà lời khen chung "Tả Hữu đồng cung" không nhắc tới.

Đọc Địa Không đứng cùng Tả Hữu

Sách cũ nói gì. Địa Không là sao chủ về sự trống, hụt, những gì không nắm được. Gặp Tả Hữu trong Mệnh, một số sách luận là "có người giúp mà giúp vào chỗ trống", tức nhiều người xung quanh nhưng việc khó thành, hoặc giúp người khác nhiều mà mình hụt. Sách nặng tay hơn thì coi Không Kiếp là yếu tố phá cách Tả Hữu.

Một cách đọc khác của chính sách xưa. Có phái lại cho rằng Địa Không gặp cát tinh thì hợp với việc tư tưởng, sáng tạo, những thứ "từ không thành có". Theo đó, người có Tả Hữu cùng Địa Không là người tập hợp được người để làm điều chưa ai làm, nhưng cần chấp nhận rủi ro cao.

Cách đọc hôm nay. Gộp hai ý, đây là cấu trúc của người có nhiều cộng sự và nhiều ý tưởng, nên phải chú ý chọn việc đáng làm và giữ ranh giới trong việc giúp người. Không phải điềm báo mất mát.

Chính tinh ở Sửu, Mùi đổi giọng cách thế nào

Vì Tả Hữu không chọn chính tinh, cách này có thể nằm trên nhiều bộ sao. Tính theo phép an chính tinh, cung Sửu hoặc Mùi có thể có:

  • Tử Vi cùng Phá Quân: lúc ấy cách trùng với dạng hẹp nhất của Quân thần khánh hội, vua có hai quan đứng ngay bên. Sách khen nhất.
  • Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng đứng một mình: sao ổn định có thêm người giúp, sách đọc là quản lý, giữ gìn có đội ngũ.
  • Thái Dương cùng Thái Âm: Nhật Nguyệt đồng cung có Tả Hữu, sách nói được giúp cả hai mặt công và tư.
  • Vũ Khúc cùng Tham Lang, hoặc Liêm Trinh cùng Thất Sát: sao mạnh, sao cương có thêm phe, sách nói làm việc lớn mà cạnh tranh gắt.
  • Thiên Đồng cùng Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Lương: sao mềm, sao mưu có thêm người cùng bàn; sách hay gắn với môi trường học thuật, dịch vụ, tư vấn.
  • Vô chính diệu: Mệnh mượn sao cung đối diện, Tả Hữu thành điểm tựa chính của Mệnh. Sách đọc là người sống nhờ quan hệ, cần cộng đồng.

Như vậy cùng một cách mà mười bộ sao khác nhau cho mười giọng luận. Đây là lý do không nên dừng ở tên cách khi đọc lá số.

Phái nào coi trọng, và những yếu tố phá cách

Lối Tam hợp coi Tả Hữu đồng cung là một trong các cách cát có tên, đặt ngang hàng với Xương Khúc đồng cung (Văn Quế Văn Hoa) và Khôi Việt chiếu Mệnh. Ba cặp lục cát tinh khi gom về một chỗ đều được khen, và người theo lối này hay nói "cát tinh có đôi thì mạnh". Lối Phi tinh ít dùng tên cách, chỉ ghi nhận Tả Hữu ở Mệnh như yếu tố hỗ trợ và quan tâm hơn tới hoá Khoa của Tả Phù hay Hữu Bật ở các bảng có dị bản.

Các yếu tố làm cách giảm theo sách: Không Kiếp đồng cung như đã tính; Kình Dương, Đà La vào Mệnh (với Sửu, Mùi, Kình Dương ở Sửu năm Quý, ở Mùi năm Đinh, Kỷ; Đà La ở Sửu năm Giáp, ở Mùi năm Canh); Hoá Kỵ của chính tinh trong Mệnh; Tuần, Triệt án Mệnh. Người tự học có thể tự kiểm các điều kiện này bằng can năm sinh, không cần sách nào.

Có một yếu tố sách ít nhắc: tháng nhuận. Tả Hữu an theo tháng âm lịch, mà tháng Tư hay tháng Mười nhuận được các cách lập lá số xử lý khác nhau. Người sinh tháng nhuận nên biết lá số mình lập theo quy ước nào trước khi đọc cách.

Những hiểu lầm hay gặp

Tả Hữu là cặp sao dễ được khen quá lời. Vài hiểu lầm nên gỡ khi đọc cách này:

  • "Có Tả Hữu đồng cung là được quý nhân suốt đời." Sách nói Tả Hữu chủ về người giúp, nhưng không nói người giúp lúc nào cũng có. Sức giúp còn tuỳ chính tinh, sát tinh và vận.
  • "Tả Hữu đồng cung thì không cần cố gắng." Ngược lại, chính sách xưa nhắc người có nhiều người giúp dễ dựa dẫm, đến lúc phải tự quyết thì lúng túng.
  • "Tả Hữu là sao nhị hợp, có ở Mệnh là chuyện tình cảm phức tạp." Một số sách nói Tả Hữu ở cung Phu Thê dễ có người thứ ba; lời ấy nếu có cũng chỉ thuộc về cung Phu Thê, không áp sang Mệnh, và nên đọc rất dè dặt.
  • "Cách này hiếm nên người có cách là đặc biệt." Cách hiếm vì điều kiện tháng giờ hẹp, đó là hệ quả của phép đếm. Hiếm không đồng nghĩa với hơn người.
  • "Không có Tả Hữu ở Mệnh là ít người giúp." Tả Hữu chỉ là một cặp trong lục cát tinh, và lá số chỉ là hệ biểu tượng. Mạng lưới quan hệ thật được xây bằng cách sống, không được phát theo tháng sinh.

Cách đọc lành mạnh là coi Tả Hữu đồng cung như một câu hỏi: mình đã biết dùng và biết đáp lại sự giúp đỡ của người khác chưa?

Đọc thử trên một lá số giả định

Lá số giả định, không phải của ai: nam, năm can Ất, sinh tháng Tư âm lịch giờ Tuất. Mệnh ở Mùi có Tả Phù, Hữu Bật; giả định chính tinh ở Mùi là Thiên Tướng (khi Tử Vi ở Sửu).

  1. Mệnh: Thiên Tướng ở Mùi cùng Tả Hữu. Thiên Tướng là ấn tinh, có hai người đỡ, sách đọc là người đáng tin, được giao việc giữ gìn.
  2. Thân ở Mão, tức Tài Bạch; Tài Bạch ở Mão có Thiên Phủ. Địa Không ở Sửu, tức Thiên Di, nơi có Tử Vi và Phá Quân. Địa Kiếp ở Dậu, tức Phúc Đức.
  3. Năm Ất: Lộc Tồn ở Mão, đóng ngay Tài Bạch cùng Thiên Phủ và cung Thân. Kình Dương ở Thìn, Đà La ở Dần. Tứ hoá năm Ất: Thiên Cơ hoá Lộc, Thiên Lương hoá Quyền, Tử Vi hoá Khoa (ở Thiên Di), Thái Âm hoá Kỵ.
  4. Ghép lại: Mệnh có người giúp, Tài Bạch kiêm Thân có kho và Lộc Tồn, Thiên Di có Tử Vi hoá Khoa nhưng gặp Địa Không. Sách sẽ đọc: được giúp, biết giữ của, ra ngoài có danh mà kế hoạch xa dễ hụt.
  5. Câu hỏi để tự chuẩn bị: ai là người thường giúp mình, và mình đã giúp lại họ thế nào? Mình có dựa vào người khác nhiều tới mức ngại tự quyết không? Những kế hoạch lớn ở bên ngoài đã có phương án dự phòng chưa?

Hiểu cách này cho tỉnh táo

Tả Hữu đồng cung mô tả một con người được bao quanh bởi sự giúp đỡ, hoặc giỏi tập hợp sự giúp đỡ. Trong đời sống, đó là kỹ năng có thật: biết nhờ người, biết làm việc nhóm, biết giữ quan hệ. Kỹ năng ấy rèn được, và người không có cách này vẫn có thể giỏi.

Câu phú "khoác áo lụa tía" là hình ảnh của thời phong kiến. Đọc hôm nay, nó gợi tới uy tín, chứ không phải hứa địa vị. Phép tính ở trên còn cho thấy cách này kéo theo cả Địa Không, Địa Kiếp ở những vị trí cố định, tức là ngay trong cách đẹp đã có sẵn lực kéo ngược.

Lá số là hệ ký hiệu văn hoá được dựng bằng quy tắc đếm cung. Nó không biết bạn có bao nhiêu người bạn thật, không biết ai sẽ giúp bạn ngày mai. Quan hệ được xây bằng cách sống, không được định sẵn bằng tháng giờ sinh.

Riêng chi tiết Thân cư Tài Bạch nên được đọc nhẹ nhàng: sách cho rằng cung Thân chỉ nửa sau cuộc đời, và Thân ở Tài Bạch thì người ta về sau quan tâm nhiều tới việc tạo dựng vật chất. Ghép với Tả Hữu ở Mệnh, có thể hiểu đó là người dùng quan hệ để làm ra của, không hơn

Câu hỏi thường gặp

Tả Hữu đồng cung có ở cung nào ngoài Sửu, Mùi không?

Không. Tả Phù đếm thuận từ Thìn, Hữu Bật đếm nghịch từ Tuất nên hai sao đối xứng qua trục Sửu Mùi và chỉ gặp nhau trên trục: tháng Tư ở Mùi, tháng Mười ở Sửu. Các tháng khác hai sao đứng ở hai cung khác nhau.

Vì sao phải sinh giờ Tuất mới có cách thủ Mệnh?

Cung Mệnh an từ tháng và giờ. Với tháng Tư, chỉ giờ Tuất đưa Mệnh về Mùi; với tháng Mười, chỉ giờ Tuất đưa Mệnh về Sửu. Các giờ khác cho Mệnh ở cung khác, khi đó Tả Hữu đồng cung ở một cung không phải Mệnh.

Tả Hữu đồng cung ở cung khác Mệnh thì đọc thế nào?

Khi đó không gọi là cách thủ Mệnh, mà đọc như cát tinh tụ ở cung ấy. Ví dụ ở Quan Lộc, sách nói công việc có nhiều người hỗ trợ; ở Tài Bạch, tiền bạc có người góp sức. Cần tránh suy diễn ở các cung nhạy như Phu Thê.

Có Địa Không trong Mệnh cùng Tả Hữu thì có xấu không?

Sách chia hai ý. Một ý cho là có người giúp mà việc khó thành. Ý khác cho là hợp với việc sáng tạo, làm điều mới. Không ý nào là dự báo mất mát. Nên đọc là cấu trúc nhiều người, nhiều ý tưởng, cần chọn việc và quản lý rủi ro.

Câu phi la y tử có nghĩa là làm quan to không?

Câu phú dùng hình ảnh áo lụa tía của quan lớn để khen. Đó là văn phong thời phong kiến. Hôm nay nên hiểu là uy tín, được nhiều người tin và giúp, chứ không phải lời hứa về chức vụ. Không cách cục nào bảo đảm địa vị.

Sinh tháng Tư nhuận giờ Tuất có tính là cách không?

Tuỳ quy ước lập lá số. Có cách tính tháng nhuận như tháng trước, có cách tính như tháng sau, có cách chia đôi theo ngày. Mỗi quy ước cho vị trí Tả Hữu khác nhau. Người sinh tháng nhuận nên biết lá số mình dùng quy ước nào trước khi đọc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.