ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Cách cục có tên trong sách

Cách Toạ quý hướng quý: Thiên Khôi, Thiên Việt ở Mệnh và Thiên Di, chỉ vài can năm có

Toạ quý hướng quý là Khôi Việt một sao ở Mệnh, một ở Thiên Di. Bài tính vì sao chỉ tuổi Giáp, Mậu (và Canh theo một bản) có, các biến thể và cách đọc.

Two old lanterns hanging on opposite sides of a narrow lane at night, warm light pooling on wet cobblestones, a figure walking between them seen from behind

Toạ quý hướng quý nghĩa là "ngồi trên quý nhân, nhìn về quý nhân": một trong hai sao Thiên Khôi, Thiên Việt đóng ở cung Mệnh, sao còn lại đóng ở cung Thiên Di đối diện. Sách tử vi gọi Khôi Việt là sao quý nhân, chủ về sự nâng đỡ của người có vị thế. Có cả hai sao ở trục Mệnh–Thiên Di, người ấy được tả là dễ gặp người giúp, ở nhà cũng như ra ngoài.

Tính bằng quy tắc an sao sẽ thấy cách này hẹp: Khôi Việt chỉ đứng đối diện nhau khi ở Sửu và Mùi, nên cách chỉ có ở người sinh năm can Giáp, Mậu, và năm Canh nếu theo bản chép của sách Hoa. Các can khác có những biến thể: Khôi Việt ở tam hợp hoặc giáp Mệnh. Bài này trình bày phép tính, các biến thể, các yếu tố phá cách và cách hiểu chữ "quý nhân" cho đời nay.

Khôi, Việt và chữ "quý"

Thiên Khôi và Thiên Việt là hai phụ tinh an theo can năm sinh, được gọi chung là "Thiên Ất quý nhân" trong nhiều sách. Thiên Khôi là dương quý nhân, gắn với ban ngày, người giúp công khai; Thiên Việt là âm quý nhân, gắn với ban đêm, người giúp lặng lẽ. Sách khen Khôi Việt về thi cử, về sự trọng dụng của bề trên, về cơ hội đến từ người có uy tín.

"Toạ" là ngồi, "hướng" là quay mặt về. Cung Mệnh là chỗ ngồi, cung Thiên Di là phía trước mặt. Khi một quý nhân ở chỗ ngồi và một quý nhân ở phía trước, sách vẽ hình ảnh người được nâng đỡ từ cả trong lẫn ngoài. Một số sách mở rộng: Khôi ở Mệnh, Việt ở Thân, hoặc ngược lại, cũng gọi là toạ quý hướng quý; nhưng bản phổ biến nhất là trục Mệnh–Thiên Di.

Cách này khác với lời khen chung "Mệnh có Khôi Việt". Có một sao Khôi hoặc Việt trong Mệnh khá thường gặp; có đủ cặp trên một trục cụ thể thì hiếm hơn nhiều, như phép tính dưới đây cho thấy.

Phép tính: Khôi Việt theo can và quan hệ giữa hai sao

Bảng an Khôi Việt thông dụng, kèm khoảng cách giữa hai sao. Can Canh và Tân có dị bản: bản hay gặp ở Việt Nam cho cả Canh lẫn Tân ở Ngọ và Dần; bản chép trong một số sách Hoa cho Canh ở Sửu và Mùi như Giáp, Mậu.

Can nămThiên KhôiThiên ViệtQuan hệ hai cungThành toạ quý hướng quý?
Giáp, MậuSửuMùiĐối diệnCó, khi Mệnh ở Sửu hoặc Mùi
Ất, KỷTýThânTam hợpKhông theo bản hẹp; có theo bản tam hợp
Bính, ĐinhHợiDậuKẹp cung TuấtKhông; thành Khôi Việt giáp nếu Mệnh ở Tuất
Canh (bản Việt), TânNgọDầnTam hợpKhông theo bản hẹp; có theo bản tam hợp
Canh (bản Hoa)SửuMùiĐối diệnCó, như Giáp, Mậu
Nhâm, QuýMãoTỵKẹp cung ThìnKhông; thành Khôi Việt giáp nếu Mệnh ở Thìn

Bảng cho thấy ba kiểu quan hệ: đối diện (Sửu–Mùi), tam hợp (Tý–Thân, Dần–Ngọ) và kẹp một cung ở giữa (Hợi–Dậu kẹp Tuất, Mão–Tỵ kẹp Thìn). Chỉ kiểu đối diện mới cho đúng hình ảnh "ngồi một quý, nhìn một quý". Chi tiết thú vị: Khôi Việt không bao giờ đóng ở Thìn, Tuất, nhưng lại là hai cung duy nhất có thể được Khôi Việt kẹp. Người Mệnh ở Thìn, Tuất không bao giờ có Khôi Việt trong Mệnh, nhưng có thể có cả hai sao đứng hai bên.

Ba biến thể và phái nào dùng

Vì bản hẹp chỉ dành cho vài can, các nguồn mở rộng cách theo nhiều hướng:

  • Bản hẹp, trục Mệnh–Thiên Di: Giáp, Mậu (thêm Canh theo bản Hoa), Mệnh ở Sửu hoặc Mùi. Lối Tam hợp coi đây là bản chuẩn.
  • Bản tam hợp: một sao ở Mệnh, sao kia ở Quan Lộc hoặc Tài Bạch. Áp dụng cho Ất, Kỷ (Tý–Thân) và Canh, Tân theo bản Việt (Dần–Ngọ). Một số sách gọi chung là "Khôi Việt hội Mệnh", không gọi là toạ quý hướng quý.
  • Bản Mệnh–Thân: một sao ở Mệnh, một sao ở cung Thân. Phụ thuộc giờ sinh, vì cung Thân đổi theo giờ. Một số tác giả Việt Nam dùng bản này.
  • Khôi Việt giáp Mệnh: Bính, Đinh với Mệnh ở Tuất; Nhâm, Quý với Mệnh ở Thìn. Đây là cách có tên riêng ở một số sách, mang tinh thần "quý nhân đứng hai bên".

Điều đáng ghi nhớ: tuổi nào cũng có Khôi Việt, chỉ khác vị trí. Một người tuổi Bính có Mệnh ở Tuất được Khôi Việt kẹp hai bên, một người tuổi Ất có Mệnh ở Thân có Việt trong Mệnh và Khôi ở tam hợp. Sách khen cả hai, chỉ với những tên gọi khác nhau.

Chính tinh ở Sửu, Mùi đổi giọng cách

Mệnh có Tử Phá, Vũ Tham, Liêm Sát. Ba bộ sao mạnh, nhiều biến động. Quý nhân ở Mệnh và Thiên Di được sách đọc là người giúp đúng lúc khi thay đổi, khi khởi sự. Năm Giáp Phá Quân hoá Quyền, năm Mậu Tham Lang hoá Lộc: với Tử Phá năm Giáp và Vũ Tham năm Mậu, Quyền hoặc Lộc rơi đúng vào Mệnh đang có quý nhân.

Mệnh có Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Lương. Sao ổn định, sao che chở. Sách đọc là người được trọng dụng vì đáng tin, quý nhân đến qua công việc có nề nếp.

Mệnh có Nhật Nguyệt, Đồng Cự, Thiên Cơ. Sao mềm, sao dùng trí. Sách hay gắn với thi cử, học thuật, công việc chuyên môn có người dẫn dắt.

Mệnh vô chính diệu. Mệnh mượn sao Thiên Di. Quý nhân thành điểm tựa chính của một cung Mệnh trống, sách nói người này lớn lên nhờ những người mình gặp.

Khôi và Việt khác nhau thế nào khi đổi chỗ

Với tuổi Giáp, Mậu, Thiên Khôi luôn ở Sửu, Thiên Việt luôn ở Mùi. Người Mệnh ở Sửu có Khôi trong Mệnh, Việt ở Thiên Di; người Mệnh ở Mùi thì ngược lại. Hai trường hợp đều thành cách, nhưng sách đọc sắc thái khác nhau. Khôi là dương quý nhân, gắn với sự nâng đỡ công khai, có danh nghĩa, như thầy dạy, cấp trên, người đề bạt. Việt là âm quý nhân, gắn với sự giúp lặng lẽ, như người giới thiệu kín đáo, người cho lời khuyên riêng.

Theo logic ấy, Mệnh ở Sửu có Khôi được đọc là bản thân đương số mang dáng dấp người được trọng dụng chính thức, còn ra ngoài thì gặp những người giúp âm thầm. Mệnh ở Mùi có Việt được đọc là bản thân kín đáo, tinh tế, còn môi trường bên ngoài có những người nâng đỡ công khai. Cả hai cách đọc đều là ẩn dụ, nhưng giúp người đọc thấy cùng một cách cục vẫn có hai giọng.

Một số sách còn lưu ý thêm ngày hay đêm lúc sinh: người sinh ban ngày được Khôi giúp nhiều hơn, người sinh ban đêm được Việt giúp nhiều hơn. Đây là quan niệm thuộc truyền thống quý nhân trong các môn số học phương Đông, không phải mọi phái đẩu số đều dùng.

Một điểm nữa nên biết: lá số in sẵn ở Việt Nam thường ghi Khôi Việt theo một bản cố định, ít khi chú thích dị bản. Người tuổi Canh nhìn lá số in sẵn rồi đối chiếu với sách Hoa có thể thấy hai kết luận ngược nhau về cùng một cách. Trước khi tranh luận, nên kiểm xem lá số mình dùng bảng nào, và ghi rõ điều đó bên cạnh mọi lời luận về quý nhân

Những yếu tố làm cách giảm

Khôi Việt là sao tốt nhưng mềm, nên dễ bị sát tinh làm giảm. Với tuổi Giáp và Mậu, có vài yếu tố tính được ngay:

  • Năm Giáp, Đà La ở Sửu: Lộc Tồn ở Dần nên Đà La ở Sửu, đứng cùng Thiên Khôi. Với Mệnh Sửu, Đà La ở ngay Mệnh; với Mệnh Mùi, Đà La ở Thiên Di. Sách nói quý nhân đến chậm, phải chờ.
  • Năm Giáp, Thái Dương hoá Kỵ: nếu Mệnh có Nhật Nguyệt ở Sửu, Mùi thì Kỵ vào Mệnh, cách bị pha.
  • Năm Mậu, Thiên Cơ hoá Kỵ: nếu Mệnh có Thiên Cơ một mình ở Sửu, Mùi thì Kỵ vào Mệnh.
  • Địa Không, Địa Kiếp, Hoả Tinh, Linh Tinh: sách nói quý nhân có mà giúp không trọn.
  • Tuần, Triệt án Mệnh hoặc Thiên Di: nhiều sách nói đường quý nhân bị chặn, có người muốn giúp mà không tới được.

Năm Mậu ít bị pha hơn năm Giáp ở hai cung Sửu, Mùi, vì Lộc Tồn năm Mậu ở Tỵ, Kình Dương ở Ngọ, Đà La ở Thìn, không chạm trục Sửu–Mùi. Đây là một ví dụ nhỏ cho thấy cùng một cách mà hai can năm cho giọng khác nhau.

Đọc thử trên một lá số giả định

Lá số giả định để luyện, không ứng với ai: nữ, năm can Mậu, Mệnh ở Mùi có Vũ Khúc và Tham Lang (khi Tử Vi ở Hợi).

  1. Khôi Việt năm Mậu: Thiên Việt ở Mùi, đóng ngay Mệnh; Thiên Khôi ở Sửu, tức Thiên Di. Thành toạ quý hướng quý theo bản hẹp.
  2. Tứ hoá năm Mậu: Tham Lang hoá Lộc ngay trong Mệnh; Thái Âm hoá Quyền, trên lá số này Thái Âm ở Ngọ, tức Huynh Đệ; Thiên Cơ hoá Kỵ ở Tuất, tức Điền Trạch.
  3. Lộc Tồn năm Mậu ở Tỵ, tức Phu Thê; Kình Dương ở Ngọ, tức Huynh Đệ, đứng cùng Thái Âm hoá Quyền sát bên Mệnh; Đà La ở Thìn, tức Tử Tức.
  4. Ghép lại: Mệnh có Lộc và quý nhân, Thiên Di có quý nhân. Huynh Đệ có cả Quyền lẫn Kình Dương: người ngang hàng mạnh, giúp được mà cũng gây áp lực. Kỵ ở Điền Trạch gợi chuyện nhà cửa cần làm kỹ giấy tờ.
  5. Câu hỏi để tự chuẩn bị: những người từng giúp mình là ai, và mình đã ghi nhận họ chưa? Mình có đang chờ quý nhân thay vì tự chuẩn bị không?

Hiểu chữ "quý nhân" cho tỉnh táo

Trong văn hoá dân gian, "quý nhân phù trợ" là lời chúc đẹp, nhưng cũng dễ thành thói quen chờ người khác cứu mình. Đọc cách Toạ quý hướng quý theo nghĩa hôm nay, quý nhân là những người có kinh nghiệm, có vị thế sẵn lòng chỉ dẫn, giới thiệu, tạo cơ hội. Họ xuất hiện nhiều hơn với người biết hỏi, biết học và biết đáp lại.

Phép tính ở trên cũng nhắc một điều quan trọng: cách này phụ thuộc hoàn toàn vào can năm và vị trí Mệnh. Mọi người sinh năm Bính đều không thể có cách này theo bản hẹp; điều đó không có nghĩa người tuổi Bính ít được giúp hơn người tuổi Giáp. Độ hiếm là hệ quả của phép đếm, không phải thước đo phúc phận.

Người làm việc với nhiều người, như giáo viên, người quản lý, người làm dịch vụ, có thể dùng ý của cách này theo chiều ngược lại: mình có đang là quý nhân của ai không? Lời sách về Khôi Việt, đọc theo hướng ấy, trở thành một lời nhắc về trách nhiệm dẫn dắt, chứ không chỉ là chuyện được người khác giúp

Như mọi cách cục, đây là một cấu trúc trong hệ biểu tượng văn hoá. Nó có thể gợi ta nghĩ về những người đã đỡ mình, nhưng không thay được việc chủ động xây quan hệ, học hỏi và làm việc tử tế.

Câu hỏi thường gặp

Toạ quý hướng quý có phải được quý nhân giúp cả đời không?

Sách khen cách này về sự nâng đỡ từ người có vị thế, nhưng không hứa điều gì suốt đời. Sức giúp còn tuỳ chính tinh, sát tinh và vận. Đọc hôm nay, đó là mô tả người dễ gặp người dẫn dắt, chứ không phải bảo đảm.

Vì sao chỉ tuổi Giáp, Mậu có cách này?

Vì Khôi Việt chỉ đứng đối diện nhau khi ở Sửu và Mùi, và theo bảng thông dụng chỉ can Giáp, Mậu đặt Khôi Việt ở đó. Một bản chép khác thêm can Canh. Các can còn lại đặt Khôi Việt ở tam hợp hoặc kẹp một cung, không thành trục Mệnh–Thiên Di.

Tuổi Canh có cách này không?

Tuỳ bản bảng an Khôi Việt. Bản hay gặp ở Việt Nam đặt Khôi Việt tuổi Canh ở Ngọ và Dần, khi đó không thành. Bản trong một số sách Hoa đặt ở Sửu và Mùi như Giáp, Mậu, khi đó thành nếu Mệnh ở Sửu hoặc Mùi. Người đọc nên biết lá số mình dùng bản nào.

Khôi Việt giáp Mệnh có tốt bằng toạ quý hướng quý không?

Sách khen cả hai, với những tên gọi khác nhau. Khôi Việt giáp Mệnh có ở tuổi Bính, Đinh với Mệnh ở Tuất và tuổi Nhâm, Quý với Mệnh ở Thìn. Không có thang điểm thống nhất để so hai cách; mỗi cách mô tả một kiểu nâng đỡ khác.

Mệnh có một sao Khôi hoặc Việt thì sao?

Khá thường gặp, và sách vẫn đọc là có quý nhân, chỉ không gọi là cách toạ quý hướng quý. Vị trí sao còn lại cho biết quý nhân đến từ đâu: từ công việc, từ tài chính, hay từ môi trường bên ngoài.

Có nên dựa vào cách này để chờ người giúp không?

Không nên. Lá số chỉ là hệ biểu tượng văn hoá. Người giúp mình thật sự đến từ quan hệ mình xây, công việc mình làm, cách mình đối xử với người khác. Dùng cách cục làm lý do để chờ đợi là cách dùng có hại.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.