Sách xưa có câu "Kình Dương nhập miếu, phú quý thanh dương", ý nói Kình Dương ở chỗ đắc địa thì thành sức mạnh chứ không phải tai vạ. Nam Ất Sửu thuộc nhóm tuổi có Kình Dương đóng đúng ô đắc địa: can Ất đặt Lộc Tồn ở Mão, Kình Dương ở Thìn, Đà La ở Dần. Cùng với đó, mọi lá số nam Ất Sửu (1925, 1985, 2045) có Thiên Khôi ở Tý, Thiên Việt ở Thân, Thiên Mã ở Hợi trong Tuần, Triệt ở Ngọ – Mùi.
Ất là âm can, nên nam Ất Sửu là âm nam, đại vận đi nghịch. Nạp âm Hải Trung Kim, dùng chung với Giáp Tý. Thân chủ theo chi năm Sửu là Thiên Tướng. Bài này đi từ Kình Dương đắc địa sang tứ hoá can Ất, rồi so với Ất Hợi và Giáp Tý để thấy những gì giống, những gì đổi.
Kình Dương ở Thìn: sát tinh ở chỗ đắc địa
Kình Dương chỉ có thể đứng ở tám ô (vì Lộc Tồn chỉ ở tám ô), trong đó bốn ô Thìn, Tuất, Sửu, Mùi được bảng thông dụng xếp đắc địa. Can Ất đưa Kình đến Thìn, can Tân đến Tuất, can Quý đến Sửu, can Đinh và Kỷ đến Mùi. Các tuổi khác có Kình ở Tý, Ngọ, Mão hoặc Dậu, bị xếp hãm.
Sách xưa đọc Kình đắc địa là uy, là sự quyết đoán, dám làm việc khó; nhiều phú văn coi Kình miếu thủ Mệnh của người làm võ quan, làm việc cần quả quyết là tốt. Đọc hôm nay thì "võ" nên hiểu rộng: nghề kỹ thuật, nghề phải xử lý áp lực, nghề cạnh tranh. Kình vẫn là sát tinh, nên ngay cả khi đắc địa, sách vẫn nhắc tính nóng, thẳng, có khi làm người bên cạnh khó chịu.
Ô Thìn của nam Ất Sửu còn có Thiếu Âm của vòng Thái Tuế và Quan Phủ, sao cuối của vòng Bác Sĩ đi nghịch từ Mão. Nếu ô Thìn trên lá số của bạn là cung Mệnh hoặc Quan Lộc, đây là chỗ đáng đọc kỹ nhất của lá số; nếu là cung Phụ Mẫu hay Nô Bộc, Kình ở đó mô tả những người xung quanh hơn là bản thân.
Câu phú dẫn ở đầu bài là lời khen theo kiểu sách cổ, gắn với một xã hội mà phú quý gắn liền với quan trường. Người đọc hôm nay chỉ nên giữ ý cốt lõi: cùng một ngôi sao, đặt đúng chỗ thì thành năng lực.
Bộ khung sao theo năm của nam Ất Sửu
Những vị trí này không cần giờ sinh. Vòng Bác Sĩ đi nghịch từ Mão (âm nam); vòng Thái Tuế đi thuận từ Sửu:
| Ô | Sao an theo năm | Ghi chú |
|---|---|---|
| Mão | Lộc Tồn, Bác Sĩ, Tang Môn | |
| Thìn | Kình Dương, Thiếu Âm, Quan Phủ | Kình đắc địa |
| Dần | Đà La, Hồng Loan, Cô Thần, Thiếu Dương, Lực Sĩ | Đà không đắc |
| Tý | Thiên Khôi, Trực Phù, Tiểu Hao | |
| Thân | Thiên Việt, Thiên Hỷ, Long Đức, Hỷ Thần | |
| Hợi | Thiên Mã, Điếu Khách, Tướng Quân | trong Tuần |
| Tuất | Quả Tú, Phúc Đức, Tấu Thư | trong Tuần |
| Ngọ | Đào Hoa, Tử Phù, Đại Hao | trong Triệt |
| Mùi | Thiên Hư, Tuế Phá, Bệnh Phù | trong Triệt |
| Sửu | Thái Tuế, Hoa Cái, Thanh Long | ô chi năm |
| Tỵ | Thiên Khốc, Long Trì, Quan Phù, Phục Binh | |
| Dậu | Phượng Các, Bạch Hổ, Phi Liêm |
Ô Sửu, chi năm, khá "sạch": Thái Tuế, Hoa Cái và Thanh Long. Sách đọc Thanh Long đi cùng Thái Tuế là người có tiếng nói, được nghe; Hoa Cái là vẻ riêng, thích nghệ thuật, đôi khi cô đơn trong suy nghĩ. Ô Dần thì đông: Đà La, Hồng Loan, Cô Thần, Lực Sĩ, Thiếu Dương; một ô vừa có sao duyên vừa có sao lẻ bóng, cách đọc phụ thuộc hoàn toàn vào nó là cung gì.
Ô Dần: Đà La gặp Hồng Loan và Cô Thần
Ô Dần của nam Ất Sửu đông sao nhất: Đà La (lùi một ô sau Lộc Tồn ở Mão), Hồng Loan của tuổi Sửu, Cô Thần của nhóm Hợi Tý Sửu, Lực Sĩ của vòng Bác Sĩ đi nghịch và Thiếu Dương của vòng Thái Tuế. Đà La ở Dần không thuộc bốn ô đắc địa, nên sách đọc nó theo nghĩa chậm, vướng, phải đi đường vòng.
Hồng Loan là sao của duyên, của sự dịu dàng; Cô Thần là sao lẻ bóng. Hai sao này đứng chung khá nhiều ở các tuổi Hợi, Tý, Sửu vì quy tắc an của chúng, và sách phổ thông hay rút ra lời "duyên đến muộn" hoặc "có duyên mà ngại mở lòng". Gặp thêm Đà La, có bản viết nặng hơn thành chuyện tình cảm dây dưa.
Đọc hôm nay, ô Dần chỉ nên được bàn khi nó là một cung có liên quan trực tiếp. Nếu Dần là cung Phu Thê trên lá số của bạn, bộ ba Đà La, Hồng Loan, Cô Thần là chất liệu để người xưa kể một câu chuyện về sự chậm rãi trong tình cảm; câu chuyện ấy có thể gợi một câu tự hỏi, nhưng không phải lời báo trước về hôn nhân. Nếu Dần là cung Điền Trạch, cùng bộ ba ấy lại được đọc thành chuyện nhà cửa chậm ổn định, phải sửa sang nhiều lần. Một ô, nhiều cách kể, tuỳ cái nhãn cung đặt lên nó.
Lộc Tồn ở Mão đứng cùng Tang Môn
Lộc Tồn của can Ất ở Mão, cùng Bác Sĩ đầu vòng và Tang Môn của vòng Thái Tuế (tuổi Sửu đặt Tang Môn ở Mão). Tang Môn nghe tên rất nặng, nhưng trong vòng Thái Tuế nó chỉ là sao thứ ba, cách chi năm hai ô; tuổi nào cũng có Tang Môn đứng ở ô cách chi năm hai bước. Sách xưa đọc Tang Môn là nỗi buồn, sự lo lắng, cũng có khi là tính hay nghĩ xa.
Lộc Tồn đi cùng Tang Môn được một số người xem diễn là "giữ của trong lo toan": người tích luỹ vì luôn nghĩ tới lúc khó. Cách diễn này thật ra mô tả một thói quen tài chính khá hợp lý. Không có lý do gì để đọc Tang Môn thành lời báo tang chế, nhất là khi đó chỉ là sao an theo năm, cả triệu người cùng tuổi có chung.
Ô Mão đối xung với ô Dậu, nơi có Phượng Các, Bạch Hổ và Phi Liêm. Khi đọc ô Mão như một cung trên lá số riêng, các sách theo phái tam hợp sẽ xem thêm ô Dậu xung chiếu và hai ô tam hợp là Hợi (có Thiên Mã trong Tuần) và Mùi (có Thiên Hư, Tuế Phá trong Triệt). Bức tranh đầy đủ bao giờ cũng là bốn ô, chưa bao giờ là một ô đứng riêng.
Thiên Việt đứng cùng Thiên Hỷ và Long Đức ở Thân
Hai quý nhân của can Ất là Thiên Khôi ở Tý và Thiên Việt ở Thân (dùng chung với can Kỷ). Ô Thân của nam Ất Sửu khá đẹp theo con mắt sách xưa: Thiên Việt, Thiên Hỷ (đối diện Hồng Loan ở Dần), Long Đức của vòng Thái Tuế và Hỷ Thần của vòng Bác Sĩ. Bốn sao ấy đều thuộc loại "lành", không có sát tinh, không có Tuần Triệt.
Người xem lá số thường đọc một ô như thế là nơi tin vui, sự giúp đỡ hiện rõ. Nếu ô Thân là cung Quan Lộc hay Thiên Di trên lá số của bạn, lời sách sẽ nói về những dịp được người khác nâng đỡ trong công việc hoặc khi đi xa. Nếu Thân là cung Huynh Đệ, ô này mô tả anh em, bạn bè như những người dễ chịu, hay giúp.
Thiên Khôi ở Tý thì đứng cùng Trực Phù và Tiểu Hao, cũng không gặp Tuần Triệt. Như vậy nam Ất Sửu là tuổi có cả hai quý nhân đều thoáng, khác với nhiều tuổi có một quý nhân bị che. Đây là chi tiết dễ thấy nhưng hay bị bỏ qua, vì người ta thường chỉ nhìn Lộc Tồn và Kình Đà.
Tứ hoá can Ất: Thiên Cơ hoá Lộc, Thái Âm hoá Kỵ
Can Ất cho Thiên Cơ hoá Lộc, Thiên Lương hoá Quyền, Tử Vi hoá Khoa, Thái Âm hoá Kỵ. Bộ này ít tranh cãi. Thiên Cơ hoá Lộc được đọc là lộc đến từ sự khéo tính, từ nghề cần đầu óc và kế hoạch; Thiên Lương hoá Quyền là uy tín của người hay che chở, có kinh nghiệm; Tử Vi hoá Khoa là tiếng tăm đàng hoàng.
Thái Âm hoá Kỵ là phần sách phổ thông hay viết nặng: Thái Âm tượng mẹ, vợ, nữ giới, nhà cửa và tiền tích luỹ; nên có sách viết "khắc mẹ" hay "khó giữ của". Đó là kiểu đọc nghĩa đen của thời trước. Hôm nay nên hiểu Thái Âm hoá Kỵ như chủ đề hay bận lòng: chuyện nhà, chuyện chăm sóc người thân nữ, chuyện tích luỹ. Đọc cho đúng còn phải biết Thái Âm ở ô nào: Thái Âm ở các ô đêm (từ Dậu tới Sửu) được coi là sáng, ở các ô ngày thì mờ, và Hoá Kỵ ở hai trường hợp được luận khác hẳn.
Vị trí của cả bốn sao hoá phụ thuộc ngày, giờ sinh. Năm sinh chỉ cho biết sao nào hoá, chưa cho biết hoá ở đâu.
Ất Sửu cạnh Giáp Tý và Ất Hợi: cùng nạp âm, cùng can, khác gì
Ất Sửu dùng chung nạp âm Hải Trung Kim với Giáp Tý. Nhưng Giáp Tý là dương nam đi thuận, Ất Sửu là âm nam đi nghịch; Giáp Tý có Lộc Mã cùng ô Dần, Ất Sửu có Lộc ở Mão và Mã ở Hợi trong Tuần. Cùng "vàng trong biển" mà bộ khung khác hẳn, cho thấy nạp âm chỉ là một lớp rất mỏng của lá số.
Ất Sửu và Ất Hợi cùng can Ất nên chung Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, tứ hoá và Triệt ở Ngọ – Mùi. Khác ở chi: Thiên Mã của Ất Hợi ở Tỵ, của Ất Sửu ở Hợi; Tuần của Ất Hợi (tuần Giáp Tuất) ở Thân – Dậu, nên Thiên Việt của Ất Hợi gặp Tuần còn của Ất Sửu thì không. Chi khác cũng làm Hồng Loan, Đào Hoa, Cô Quả và vòng Thái Tuế đổi chỗ toàn bộ.
Với cục: can Ất dùng ngũ hổ độn khởi Mậu Dần, nên Mệnh ở Tý, Sửu là Hoả lục cục (khắc mệnh Kim); Dần, Mão, Tuất, Hợi là Thổ ngũ cục (sinh mệnh); Thìn, Tỵ là Kim tứ cục (đồng hành); Ngọ, Mùi là Mộc tam cục (mệnh khắc cục); Thân, Dậu là Thuỷ nhị cục (mệnh sinh cục). Mệnh ở ô Thìn có Kình đắc địa thì gặp Kim tứ cục, đồng hành với mệnh.
Năm nay người sinh 1985 khoảng bốn mươi mốt, bốn mươi hai tuổi; âm nam đi nghịch nên phần lớn đang ở vận thứ tư tại Tử Tức, người Thuỷ nhị cục đã sang vận thứ năm tại Tài Bạch từ 42 tuổi.
Lời sách phổ thông và một cách đọc cho người ngoài bốn mươi
Sách xem tuổi phổ thông tả nam Ất Sửu là người cần cù, chắc chắn, "ít nói mà làm nhiều", có bản thêm "trung niên gặp nhiều thử thách, hậu vận vững". Hình ảnh con trâu và nạp âm vàng trong biển dễ sinh ra những lời như thế. Vài bản còn nói tuổi này "khắc vợ" hoặc "muộn con"; những lời đó không đứng được trên bất kỳ lá số đầy đủ nào, vì Phu Thê, Tử Tức đặt ở đâu là tuỳ giờ sinh.
Lá số là một cách nhìn con người qua ký hiệu mà cha ông để lại. Dùng nó để tự đặt câu hỏi thì có ích: mình có đang dùng sức quyết đoán đúng chỗ không, mình chăm lo người thân theo cách nào, mình tích luỹ cho ai. Còn những việc lớn như đổi nghề, mua nhà, chăm sóc sức khoẻ thì phải dựa vào thông tin thật và người có chuyên môn.
Câu hỏi thường gặp
Kình Dương của nam Ất Sửu ở đâu, có đắc địa không?
Kình Dương của can Ất ở Thìn, một trong bốn ô Thìn Tuất Sửu Mùi mà bảng thông dụng xếp đắc địa. Sách xưa đọc Kình đắc địa là sự quyết đoán, dám làm, dù vẫn nhắc tính nóng thẳng của sát tinh.
Nam Ất Sửu đi đại vận chiều nào?
Đi nghịch, vì Ất là âm can và giới nam. Thứ tự vận là Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch. Nữ Ất Sửu là âm nữ nên đi thuận, sang Phụ Mẫu và Phúc Đức trước.
Hai quý nhân của tuổi Ất Sửu có gặp Tuần Triệt không?
Không. Thiên Khôi ở Tý, Thiên Việt ở Thân; Tuần của Ất Sửu ở Tuất – Hợi, Triệt của can Ất ở Ngọ – Mùi. Cả hai quý nhân đều đứng thoáng, khác với Ất Hợi có Thiên Việt gặp Tuần.
Thái Âm hoá Kỵ có phải là điềm xấu cho mẹ hay vợ không?
Không nên hiểu như vậy. Đó là cách đọc nghĩa đen của sách cũ. Thái Âm hoá Kỵ chỉ gợi một chủ đề hay bận lòng như chuyện nhà, chuyện chăm sóc người thân, chuyện tích luỹ; muốn luận kỹ còn phải biết Thái Âm đóng ô nào.
Ất Sửu và Giáp Tý cùng Hải Trung Kim thì lá số có giống nhau không?
Không giống. Chỉ nạp âm trùng, còn can khác nên Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, tứ hoá đều khác; chiều đại vận cũng ngược nhau vì Giáp Tý là dương nam, Ất Sửu là âm nam.
Thiên Mã của nam Ất Sửu nằm trong Tuần thì có ý nghĩa gì?
Sách cổ đọc Mã gặp Tuần là sự đi lại hay bị lỡ, kế hoạch dời ngày. Đây chỉ là hình ảnh biểu tượng; nó có trọng lượng khi ô Hợi là cung Mệnh, Thiên Di hay Quan Lộc trên lá số cụ thể.