ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Lá số tuổi Kỷ Mùi nam mạng 1979: Kình Dương ở ô Thái Tuế, Thiên Mã gặp Đà La

Nam Kỷ Mùi (1919, 1979) là âm nam, vận nghịch; Kình Dương đắc địa ở Mùi cùng Thái Tuế, Thiên Mã gặp Đà La ở Tỵ, hai quý nhân Khôi Việt đều gặp Tuần Triệt.

A Vietnamese man in his late forties seen from behind walking up stone steps toward an old village communal house at dusk, banyan roots and warm lantern glow

Trên mọi lá số nam Kỷ Mùi (1919, 1979, 2039), ô Mùi, tức ô chi năm, chứa Kình Dương cùng Thái Tuế, Hoa Cái và Quan Phủ. Đó là chỗ đáng chú ý thứ nhất. Chỗ thứ hai là Thiên Mã ở Tỵ đứng chung với Đà La, tổ hợp mà sách cổ đặt cho cái tên "chiết túc mã", ngựa gãy chân. Chỗ thứ ba: cả hai quý nhân đều gặp không vong, Thiên Khôi ở Tý trong Tuần, Thiên Việt ở Thân trong Triệt. Lộc Tồn thì ở Ngọ, đứng thoáng.

Kỷ là âm can, nên nam Kỷ Mùi là âm nam, đại vận đi nghịch. Nạp âm Thiên Thượng Hoả, lửa trên trời. Bài đọc ba chỗ ấy theo lời sách và theo cách hiểu cân bằng, kèm bảng cục và một nhận xét về nhịp vận của người sinh năm 1979.

Kình Dương đứng ngay ô chi năm cùng Thái Tuế

Can Kỷ đặt Lộc Tồn ở Ngọ, nên Kình Dương tiến một ô sang Mùi. Với tuổi Mùi, Mùi lại là nơi khởi vòng Thái Tuế và là chỗ của Hoa Cái (nhóm Hợi Mão Mùi). Vòng Bác Sĩ đi nghịch từ Ngọ thì sao cuối, Quan Phủ, cũng dừng ở Mùi. Bốn sao trùng một ô hoàn toàn do phép đếm.

Kình Dương ở Mùi thuộc thế đắc địa (bốn ô Thìn Tuất Sửu Mùi). Sách xưa coi Kình đắc địa là uy và sức quyết; đứng cùng Thái Tuế, sao của lập trường, của sự nói thẳng, thì hình ảnh được vẽ ra là một người cứng rắn, có chính kiến, không dễ lùi. Hoa Cái thêm vào vẻ trầm, kín, có óc thẩm mỹ riêng; Quan Phủ gắn với lý lẽ, văn bản.

Đọc hôm nay, đó là một chân dung đẹp nếu hiểu đúng: cương mà có nguyên tắc. Mặt cần để ý là sự cứng rắn ấy dễ thành cố chấp. Nhưng nhắc lại một lần nữa, mọi người nam Kỷ Mùi đều có ô Mùi y như thế; ô ấy chỉ có tiếng nói lớn khi nó trùng cung Mệnh, Thân hay một cung trong tam phương của Mệnh trên lá số riêng.

So với nữ Kỷ Mùi, ô Mùi giữ nguyên Kình Dương, Thái Tuế, Hoa Cái; chỉ Quan Phủ đổi chỗ, vì âm nữ đi vòng Bác Sĩ thuận, Quan Phủ của chị em rơi vào Tỵ.

Thiên Mã gặp Đà La ở Tỵ: "ngựa gãy chân" nghĩa là gì

Nhóm chi Hợi Mão Mùi đặt Thiên Mã ở Tỵ. Đà La của can Kỷ lùi một ô sau Lộc Tồn, cũng rơi vào Tỵ. Cùng ô còn có Lực Sĩ và Điếu Khách. Mã gặp Đà là tổ hợp được sách cổ đặt tên khá nặng: chiết túc mã, con ngựa gãy chân, ngụ ý đi lại vất vả, việc cần nhanh mà bị chậm.

Phải đặt tên gọi ấy vào bối cảnh: trong xã hội nông nghiệp, ngựa là phương tiện của người làm quan, đi buôn; ngựa què là hình ảnh rất cụ thể của sự lỡ việc. Hôm nay, khi di chuyển và liên lạc đã khác hẳn, lời sách nên được hiểu như một gợi ý về nhịp: những việc cần di chuyển, đổi chỗ có thể đòi chuẩn bị kỹ hơn, kiên nhẫn hơn. Đà La cũng có mặt bền bỉ, nên có người đọc tổ hợp này là đi chậm mà đi xa.

Tổ hợp chỉ có trọng lượng khi ô Tỵ là cung Mệnh, Thiên Di hoặc Quan Lộc. Nếu Tỵ là cung Tử Tức hay Nô Bộc trên lá số của bạn, nó chỉ là chi tiết kỹ thuật. Đừng để một cái tên đáng sợ làm méo cả cách nhìn lá số.

Bộ khung sao theo năm của nam Kỷ Mùi

Vòng Bác Sĩ đi nghịch từ Ngọ (âm nam), vòng Thái Tuế đi thuận từ Mùi. Các ô không ghi là không có sao chính theo năm đáng kể:

ÔSao an theo năm
NgọLộc Tồn, Bác Sĩ, Trực Phù
MùiKình Dương, Thái Tuế, Hoa Cái, Quan Phủ
TỵĐà La, Thiên Mã, Lực Sĩ, Điếu Khách
TýThiên Khôi, Đào Hoa, Tử Phù, Phi Liêm — trong Tuần
SửuThiên Hư, Tuế Phá, Tấu Thư — trong Tuần
ThânThiên Việt, Hồng Loan, Cô Thần, Thiếu Dương, Phục Binh — trong Triệt
DậuTang Môn, Đại Hao — trong Triệt
DầnThiên Hỷ, Long Đức, Tướng Quân
MãoPhượng Các, Bạch Hổ, Tiểu Hao
ThìnQuả Tú, Phúc Đức, Thanh Long
TuấtThiếu Âm, Bệnh Phù
HợiThiên Khốc, Long Trì, Quan Phù, Hỷ Thần

Kỷ Mùi thuộc tuần Giáp Dần (Giáp Dần tới Quý Hợi), thiếu Tý và Sửu nên Tuần ở Tý – Sửu; Triệt của can Kỷ ở Thân – Dậu. Mệnh chủ theo chi cung Mệnh, thân chủ theo chi năm Mùi là Thiên Tướng.

Tứ hoá can Kỷ: Vũ Khúc hoá Lộc, Tham Lang hoá Quyền, Thiên Lương hoá Khoa, Văn Khúc hoá Kỵ, khá thống nhất giữa các phái.

Hai quý nhân đều gặp không vong

Can Kỷ đặt Thiên Khôi ở Tý và Thiên Việt ở Thân. Với Kỷ Mùi, Tý nằm trong Tuần, Thân nằm trong Triệt. Không phải tuổi nào cũng gặp cảnh này: Kỷ Tỵ cùng can nhưng Tuần ở Tuất – Hợi nên Thiên Khôi ở Tý được thoáng, chỉ Thiên Việt bị Triệt.

Ô Tý của nam Kỷ Mùi còn có Đào Hoa; ô Thân có Hồng Loan và Cô Thần. Như vậy những sao "đẹp" nhất về quý nhân và duyên đều nằm trong vùng không vong. Sách phổ thông hay viết thành "ít được nhờ người, tình cảm đến muộn". Một số phái nhìn khác: Tuần Triệt che bớt sao lành thì cũng che bớt sự phụ thuộc vào người khác, người có lá số này quen tự xoay xở từ sớm.

Cả hai cách diễn đều là kể chuyện quanh một cấu trúc. Điều có thể kiểm được là: ô Tý và ô Thân trên lá số của bạn là cung gì. Nếu chúng là Huynh Đệ và Tử Tức chẳng hạn, chuyện "ít quý nhân" của sách gần như không chạm đến Mệnh. Đọc lá số theo cách ấy là đọc cấu trúc, không đọc nhãn.

Mệnh Thiên Thượng Hoả và năm loại cục của can Kỷ

Can Kỷ dùng ngũ hổ độn khởi Bính Dần. Cục của nam Kỷ Mùi theo chi cung Mệnh, và quan hệ với bản mệnh Hoả:

Cung Mệnh ởCụcQuan hệ với mệnh Hoả
Thìn, TỵMộc tam cụccục sinh mệnh
Dần, Mão, Tuất, HợiHoả lục cụcđồng hành
Ngọ, MùiThổ ngũ cụcmệnh sinh cục
Thân, DậuKim tứ cụcmệnh khắc cục
Tý, SửuThuỷ nhị cụccục khắc mệnh

Trường hợp Mệnh ở Mùi, ô chi năm có Kình Dương, cho Thổ ngũ cục, mệnh sinh cục, khởi vận lúc năm tuổi. Trường hợp Mệnh ở Tỵ, ô Mã gặp Đà, lại là Mộc tam cục sinh mệnh Hoả, lời sách về mệnh cục ở đây khá thuận, như để bù cho cái tên "ngựa gãy chân". Mệnh ở Tý hay Sửu thì vừa trong Tuần vừa gặp Thuỷ nhị cục khắc mệnh.

Mỗi dòng của bảng là một lớp, và lá số là nhiều lớp chồng lên. Người học lá số tử tế sẽ không kết luận từ bất kỳ lớp đơn lẻ nào.

Lộc Tồn ở Ngọ: sao giữ của đứng giữa hai nhịp nhanh chậm

Ô Ngọ của nam Kỷ Mùi khá gọn: Lộc Tồn, Bác Sĩ (sao đầu vòng, luôn đi cùng Lộc Tồn) và Trực Phù của vòng Thái Tuế. Không Tuần, không Triệt, không sao duyên, không sát tinh. Hai bên là Kình Dương ở Mùi và Đà La ở Tỵ, đúng như quy tắc Lộc Tồn luôn bị "kẹp" giữa Kình và Đà.

Sách xưa có hình ảnh Lộc Tồn như kho lúa có lính canh hai bên: Kình là lính cầm giáo đứng trước, Đà là lính kéo xe đứng sau. Kho được canh nên giữ được, nhưng cũng vì có lính nên người giữ kho hay sống hơi thủ thế, ít mở cửa. Đó là lý do nhiều sách tả người có Lộc Tồn thủ Mệnh là cẩn thận, tiết kiệm, đôi khi khép kín.

Với nam Kỷ Mùi, cái "kẹp" ấy có nét riêng: Kình ở Mùi đắc địa, mạnh; Đà ở Tỵ đi cùng Thiên Mã, chậm mà xa. Nếu Mệnh ở Ngọ, hai ô kẹp bên là Huynh Đệ (Tỵ) và Phụ Mẫu (Mùi), người xem theo lối cũ sẽ nói người thân hai phía vừa che chở vừa tạo áp lực. Một lời mô tả thú vị để tự soi, không hơn.

Ô Ngọ đối xung với ô Tý, nơi có Thiên Khôi và Đào Hoa trong Tuần. Khi đọc ô Ngọ như một cung, phái tam hợp sẽ nhìn thêm ô Tý xung chiếu và hai ô tam hợp Dần, Tuất. Ô Dần có Thiên Hỷ và Long Đức, ô Tuất gần như trống, nên tam phương của Lộc Tồn khá yên.

Kiểm một lá số in sẵn tuổi Kỷ Mùi trong năm phút

Bộ khung theo năm có một công dụng thiết thực: kiểm xem lá số in sẵn của mình có bị lập sai năm, sai giới hay không. Với nam Kỷ Mùi, có thể làm theo thứ tự sau. Một, xem ô Ngọ có Lộc Tồn, ô Mùi có Kình Dương, ô Tỵ có Đà La. Hai, xem Thiên Mã ở Tỵ, Thiên Khôi ở Tý, Thiên Việt ở Thân. Ba, xem Tuần ghi ở Tý – Sửu, Triệt ở Thân – Dậu. Bốn, xem ô thông tin ghi "âm nam" và đại vận các cung tăng dần theo chiều Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê.

Nếu Lộc Tồn không ở Ngọ, lá số có thể đã bị lập theo năm dương lịch thay vì năm âm lịch (người sinh tháng một, đầu tháng hai dương lịch rất hay gặp lỗi này). Nếu đại vận đi chiều ngược, lá số có thể bị chọn sai giới. Những lỗi ấy làm hỏng toàn bộ phần đọc sau đó, nên kiểm trước bao giờ cũng rẻ hơn đọc sai rồi sửa.

Người sinh năm 1979 và vận Tài Bạch

Âm nam đi nghịch: Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, rồi vận thứ năm ở Tài Bạch, bắt đầu từ cục số cộng bốn mươi (42 tuổi với Thuỷ nhị cục, 46 tuổi với Hoả lục cục). Người sinh năm 1979 năm nay bốn mươi tám tuổi theo lối tuổi mụ, nên dù cục nào cũng đang đi giữa vận Tài Bạch.

Sách xưa đọc vận Tài Bạch là mười năm chuyện tiền bạc, cách làm ra và giữ của được đặt lên bàn. Với can Kỷ có Vũ Khúc hoá Lộc và Tham Lang hoá Quyền, hai sao gắn với tài chính và tham vọng, người xem theo lối cũ dễ "hứng" lên. Cần tỉnh: Vũ Khúc hay Tham Lang đóng ở đâu là tuỳ ngày giờ sinh, có thể không hề nằm trong cung Tài Bạch của vận.

Cách dùng vận Tài Bạch có ích là coi nó như một đề mục để rà lại tài chính gia đình: nguồn thu, khoản tích luỹ, chi tiêu cho học hành của con, chuẩn bị cho tuổi già của cha mẹ. Đó là việc nên làm ở tuổi gần năm mươi bất kể lá số nói gì. Lá số không thay được bảng tính chi tiêu, càng không thay được lời khuyên của người làm tài chính có chuyên môn.

Lời sách phổ thông về nam Kỷ Mùi và điều nên giữ lại

Sách xem tuổi phổ thông thường tả nam Kỷ Mùi là người hiền mà cứng, chăm chỉ, "tuổi trẻ nhiều phen thay đổi chỗ ở", "trung niên gây dựng được cơ ngơi". Ý thay đổi chỗ ở có lẽ suy từ Thiên Mã; ý gây dựng cơ ngơi là khuôn câu dễ chịu dùng cho nhiều tuổi. Có bản còn viết những câu như "khắc vợ đầu" hay "anh em mỗi người một nơi", thứ không lá số đầy đủ nào có thể chứng minh.

Thứ đáng giữ lại từ lá số tuổi này là vài câu tự hỏi: sự cứng rắn của mình đang giúp hay đang cản người bên cạnh; những việc phải di chuyển, thay đổi có cần chuẩn bị kỹ hơn không; và mình đang tự xoay xở quá mức hay đã biết nhờ người khi cần. Lá số là một bộ ký hiệu cổ, thú vị ở chỗ nó gợi được những câu hỏi như thế; còn câu trả lời thì nằm ở đời sống thật, ở những quyết định mình tự cân nhắc. Muốn tra tuổi Kỷ Mùi theo màu, hướng, con số dân gian, có thể xem thêm tuviphongthuy.com.

Câu hỏi thường gặp

Nam Kỷ Mùi có Kình Dương ở đâu, có đắc địa không?

Kình Dương của can Kỷ ở Mùi, đúng ô chi năm của tuổi Mùi, cùng Thái Tuế, Hoa Cái và Quan Phủ. Mùi là một trong bốn ô Thìn Tuất Sửu Mùi nên Kình ở đây được xếp đắc địa.

"Chiết túc mã" là gì, nam Kỷ Mùi có gặp không?

Đó là tên sách cổ đặt cho tổ hợp Thiên Mã gặp Đà La, nghĩa đen là ngựa gãy chân. Nam Kỷ Mùi có Thiên Mã và Đà La cùng ở Tỵ, nên tổ hợp này có trên mọi lá số tuổi này; trọng lượng tuỳ ô Tỵ là cung gì.

Vì sao cả hai quý nhân của tuổi Kỷ Mùi đều gặp không vong?

Can Kỷ đặt Thiên Khôi ở Tý, Thiên Việt ở Thân. Kỷ Mùi thuộc tuần Giáp Dần nên Tuần ở Tý – Sửu, và Triệt của can Kỷ ở Thân – Dậu. Thế là Khôi gặp Tuần, Việt gặp Triệt.

Người sinh năm 1979 đang ở đại vận nào?

Âm nam đi nghịch nên vận thứ năm ở cung Tài Bạch, bắt đầu từ 42 đến 46 tuổi tuỳ cục. Năm nay người sinh 1979 khoảng bốn mươi tám tuổi nên đều đang ở vận này; nội dung vận còn tuỳ sao trong cung đó.

Nam Kỷ Mùi và nữ Kỷ Mùi khác nhau chỗ nào?

Sao theo can và chi giống nhau, kể cả Kình ở Mùi và Mã gặp Đà ở Tỵ. Khác ở chiều đại vận: nữ Kỷ Mùi là âm nữ đi thuận. Vòng Bác Sĩ của nữ cũng đi thuận từ Ngọ nên Quan Phủ, Lực Sĩ đổi chỗ.

Có nên dựa vào vận Tài Bạch để quyết đầu tư không?

Không nên. Vận Tài Bạch chỉ là một đề mục biểu tượng theo cách sách xưa xếp đặt. Quyết định tài chính cần dựa trên thu nhập, rủi ro, kế hoạch gia đình thật và lời khuyên của người có chuyên môn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.