ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Tuổi Kỷ Tỵ nam mạng trên lá số: Lộc Tồn gặp Đào Hoa, Thiên Mã trong Tuần

Nam Kỷ Tỵ (1929, 1989) là âm nam, đại vận nghịch; Lộc Tồn ở Ngọ cùng Đào Hoa, Đà La ở ô Thái Tuế Tỵ, Thiên Mã ở Hợi gặp Tuần, Thiên Việt ở Thân gặp Triệt.

A Vietnamese man in his late thirties seen from behind repairing a wooden window shutter of an old village house, hand plane on the sill, afternoon side light

Người nam tuổi Kỷ Tỵ sinh năm 1989 (vòng trước 1929, vòng sau 2049) là âm nam: can Kỷ thuộc âm, nên đại vận đi nghịch, từ Mệnh sang Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức. Bộ sao an theo năm của mọi lá số nam Kỷ Tỵ: Lộc Tồn ở Ngọ cùng Đào Hoa, Kình Dương ở Mùi, Đà La ở Tỵ đúng ô Thái Tuế, Thiên Khôi ở Tý, Thiên Việt ở Thân (gặp Triệt), Thiên Mã ở Hợi (gặp Tuần).

Nạp âm Đại Lâm Mộc, gỗ cây rừng lớn. Năm nay người sinh 1989 ở quãng ba mươi bảy, ba mươi tám tuổi; với bất kỳ cục nào, âm nam tuổi này đều đang đi vận thứ tư, và vận thứ tư của âm nam rơi vào cung Tử Tức. Bài này giải thích vì sao như vậy, đọc các ô cố định, và nhắc rõ những gì lá số không nói được.

Âm nam đi nghịch: vì sao ai sinh năm 1989 cũng đang ở vận Tử Tức

Đại vận đầu tiên khởi ở cung Mệnh từ tuổi bằng cục số (2 với Thuỷ nhị cục, đến 6 với Hoả lục cục), mỗi vận mười năm. Âm nam và dương nữ đi nghịch, nên thứ tự là Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di… Vận thứ tư (cung Tử Tức) bắt đầu từ cục số cộng ba mươi: Thuỷ nhị cục 32 tuổi, Mộc tam cục 33, Kim tứ cục 34, Thổ ngũ cục 35, Hoả lục cục 36. Người sinh năm 1989, năm nay ba mươi tám tuổi tính theo lối tuổi mụ, vì vậy đều đang ở vận Tử Tức dù cục là gì.

Sách xưa đọc vận Tử Tức là giai đoạn chuyện con cái, học trò, người dưới mình, và cả những "sản phẩm" mình làm ra được đặt lên hàng đầu. Cách đọc mở rộng ấy hợp với đời nay hơn: vận Tử Tức không nói ai sẽ có con hay không, mà gợi một chủ đề là chăm lo cho thứ mình tạo ra, dù là gia đình, đội nhóm hay một công việc riêng.

Cần nói rõ thêm: vận Phu Thê đứng ngay trước, rơi vào quãng hai mươi hai đến ba mươi lăm tuổi, nên nhiều người sinh năm 1989 từng tra lá số đúng giai đoạn ấy. Không nên đọc vận Phu Thê hay Tử Tức thành lời phán về hôn nhân, con cái. Những chuyện đó nằm ở lựa chọn và hoàn cảnh thật của mỗi người.

Bộ khung sao theo năm của nam Kỷ Tỵ

Các ô dưới đây giống nhau trên mọi lá số nam Kỷ Tỵ. Vòng Bác Sĩ đi nghịch từ Ngọ vì là âm nam; vòng Thái Tuế đi thuận từ Tỵ:

ÔSao an theo năm
TỵĐà La, Thái Tuế, Phượng Các, Lực Sĩ
NgọLộc Tồn, Đào Hoa, Bác Sĩ, Thiếu Dương
MùiKình Dương, Tang Môn, Quan Phủ
ThânThiên Việt, Cô Thần, Thiếu Âm, Phục Binh — trong Triệt
DậuLong Trì, Quan Phù, Đại Hao — trong Triệt
TuấtHồng Loan, Tử Phù, Bệnh Phù — trong Tuần
HợiThiên Mã, Thiên Hư, Tuế Phá, Hỷ Thần — trong Tuần
TýThiên Khôi, Long Đức, Phi Liêm
SửuThiên Khốc, Hoa Cái, Bạch Hổ, Tấu Thư
DầnPhúc Đức, Tướng Quân
MãoĐiếu Khách, Tiểu Hao
ThìnThiên Hỷ, Quả Tú, Trực Phù, Thanh Long

Kỷ Tỵ thuộc tuần Giáp Tý (Giáp Tý tới Quý Dậu), tuần ấy thiếu Tuất và Hợi, nên Tuần ở Tuất – Hợi. Triệt của can Kỷ (chung với Giáp) ở Thân – Dậu. Bốn ô liền từ Thân tới Hợi vì thế nằm trong vùng không vong, đúng nửa phía có Thiên Việt, Thiên Mã và Hồng Loan.

Mệnh chủ tuỳ chi cung Mệnh; thân chủ theo chi năm Tỵ là Thiên Cơ.

Lộc Tồn và Đào Hoa cùng ở Ngọ

Can Kỷ đặt Lộc Tồn ở Ngọ; nhóm chi Tỵ Dậu Sửu đặt Đào Hoa cũng ở Ngọ. Hai sao này hiếm khi được sách bàn chung, vì một bên là sao giữ của, thận trọng, một bên là sao của sức hút, giao tiếp. Đặt cạnh nhau, người xem hay diễn là "của đến nhờ duyên ăn nói", hoặc nghề có liên quan đến cái đẹp, sự khéo léo.

Đọc hôm nay, đó là một gợi ý khá gần đời: nhiều công việc tạo ra thu nhập nhờ khả năng làm người khác thích mình, từ bán hàng, dịch vụ đến những nghề sáng tạo. Nhưng cũng nhiều người tuổi Kỷ Tỵ làm kỹ thuật, nghiên cứu, ít giao tiếp mà vẫn ổn. Ô Ngọ chỉ đáng đọc kỹ khi là cung Mệnh, Tài Bạch hoặc Quan Lộc của bạn.

Hai bên Lộc Tồn là Đà La ở Tỵ và Kình Dương ở Mùi. Kình ở Mùi thuộc bốn ô Thìn Tuất Sửu Mùi mà bảng thông dụng xếp đắc địa, nên ít bị đọc nặng; Đà La ở Tỵ thì không thuộc bốn ô ấy. Đà La lại đứng ngay ô chi năm cùng Thái Tuế, giống trường hợp nhiều tuổi khác có Đà ở chi năm. Sách hay nói người có Đà La ở Thái Tuế là người giữ ý, nghĩ lâu rồi mới nói.

Thiên Mã trong Tuần, Thiên Việt trong Triệt

Nhóm Tỵ Dậu Sửu đặt Thiên Mã ở Hợi, và Hợi nằm trong Tuần. Cùng ô còn có Thiên Hư, Tuế Phá và Hỷ Thần. Sách cổ có cách gọi Mã gặp Tuần Triệt là "ngựa bị buộc" hay "ngựa què" tuỳ bản, và diễn là đi lại hay bị lỡ, kế hoạch dời ngày. Đó là hình ảnh văn chương, sức nặng phụ thuộc ô Hợi là cung gì.

Thiên Việt của can Kỷ an ở Thân, nằm trong Triệt cùng Cô Thần. Thiên Khôi ở Tý thì đứng thoáng, cùng Long Đức và Phi Liêm. Như vậy trong cặp quý nhân, chỉ Thiên Khôi không bị che. Người xem thường khuyên chú ý ô Tý là cung gì, vì đó là chỗ sự trợ giúp "lộ mặt".

Nhìn rộng hơn, bốn ô từ Thân tới Hợi đều trong vùng không vong; một lá số nam Kỷ Tỵ có Mệnh ở Dần thì bốn ô ấy lần lượt là Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức. Người đọc lá số ấy theo lối cũ sẽ nói các cung này "khó nắm", phải tự xoay; đọc hôm nay chỉ nên hiểu là các sao trong đó, cả lành lẫn dữ, được giảm bớt trọng lượng khi luận.

Tứ hoá can Kỷ: Vũ Khúc hoá Lộc, Văn Khúc hoá Kỵ

Can Kỷ cho Vũ Khúc hoá Lộc, Tham Lang hoá Quyền, Thiên Lương hoá Khoa, Văn Khúc hoá Kỵ. Bộ này khá thống nhất giữa các phái. Vũ Khúc và Tham Lang đều là sao gắn với tiền bạc, ham muốn, hành động; nên sách hay nói tuổi Kỷ có duyên với việc kinh doanh, tài chính.

Văn Khúc hoá Kỵ thuộc chữ nghĩa, giấy tờ, lời nói. Sách phổ thông đôi khi viết thành "dễ vướng thị phi vì lời nói" hay "giấy tờ trục trặc". Đọc tỉnh hơn: đây là chủ đề nên cẩn thận với cam kết bằng văn bản, với cách diễn đạt; một lời nhắc tốt cho bất kỳ ai ký hợp đồng. Văn Khúc an theo giờ sinh, nên Hoá Kỵ này đóng cung nào là tuỳ từng người.

Thiên Lương hoá Khoa được đọc là tiếng tốt nhờ sự tử tế, che chở người khác; Tham Lang hoá Quyền là sức hút và tham vọng được việc. Bốn sao hoá kể chung một câu chuyện về người biết làm ra tiền, có khát vọng, nhưng nên cẩn thận lời ăn tiếng nói. Câu chuyện đó vẫn chỉ là khung; người thật thì đầy đủ và phức tạp hơn nhiều.

Mệnh Đại Lâm Mộc và năm loại cục của can Kỷ

Can Kỷ dùng chung ngũ hổ độn với can Giáp (khởi Bính Dần), nên bảng cục của nam Kỷ Tỵ giống nam Giáp Tý, chỉ quan hệ với bản mệnh là đổi vì nạp âm khác:

Cung Mệnh ởCụcQuan hệ với mệnh Mộc
Tý, SửuThuỷ nhị cụccục sinh mệnh
Thìn, TỵMộc tam cụcđồng hành
Thân, DậuKim tứ cụccục khắc mệnh
Ngọ, MùiThổ ngũ cụcmệnh khắc cục
Dần, Mão, Tuất, HợiHoả lục cụcmệnh sinh cục

Trường hợp Mệnh ở Tỵ, đúng ô chi năm có Đà La và Thái Tuế, cho Mộc tam cục đồng hành với mệnh Mộc. Mệnh ở Ngọ, ô có Lộc Tồn và Đào Hoa, lại là Thổ ngũ cục, mệnh khắc cục; sách xưa đọc kiểu này là người phải dùng sức nhiều để "nắm" hoàn cảnh. Mệnh ở Thân hay Dậu thì vừa gặp Triệt vừa gặp Kim tứ cục khắc mệnh, là trường hợp sách cổ luận nặng nhất về mặt mệnh cục.

Như các bài khác của trang đã nhắc, quan hệ mệnh cục chỉ là một lớp. Một lá số có cục khắc mệnh nhưng chính tinh ở Mệnh sáng sủa, có Lộc Quyền chiếu về, vẫn được sách đọc là khá. Đừng vì một dòng trong ô thông tin đầu lá số mà vội buồn hay vội mừng.

Lời sách phổ thông về nam Kỷ Tỵ

Những cuốn sách xem tuổi bán dịp đầu năm thường viết về nam Kỷ Tỵ theo vài khuôn: thông minh, khéo léo, "tiền vận nhiều vất vả về tình cảm", "trung vận phát về tiền bạc". Hình ảnh con rắn (khôn, kín) và nạp âm gỗ rừng lớn (vững, chậm lớn) góp phần tạo ra những nét ấy; còn ý "phát về tiền" có thể suy từ Vũ Khúc hoá Lộc của can Kỷ.

Một số bản còn có câu kiểu "tuổi Kỷ Tỵ khó hợp tuổi Hợi" vì Tỵ – Hợi xung nhau trong mười hai chi. Đem quan hệ giữa hai con giáp áp vào hôn nhân, hợp tác của hai con người là bước nhảy mà chính lá số đầy đủ cũng không cho phép: muốn so hai người, các phái xưa ít nhất còn xem cung Phu Thê, chính tinh, tứ hoá của cả hai lá số.

Người đọc hôm nay có thể giữ lại những chữ mô tả tính cách như gương soi, và gạt đi các lời về duyên phận, hợp kỵ. Một nét chung đáng giữ là lời nhắc của Văn Khúc hoá Kỵ: cẩn thận với giấy tờ, cam kết, cách mình viết và nói. Lời nhắc ấy có ích cho mọi người ở tuổi ba mươi tám, khi giấy tờ nhà cửa, công việc ngày một nhiều.

Kỷ Tỵ và Đinh Tỵ: cùng Lộc Kình Đà, khác quý nhân

Can Đinh và can Kỷ có chung Lộc Tồn ở Ngọ, nên nam Đinh Tỵ (1977) và nam Kỷ Tỵ (1989) có Lộc, Kình, Đà trùng ô hoàn toàn, lại cùng là âm nam đi nghịch, cùng chi Tỵ nên vòng Thái Tuế và các sao theo chi giống hệt. Người mới học hay nghĩ hai tuổi này "giống nhau", nhưng phần khác lại nằm ở những chỗ quan trọng.

Thiên Khôi, Thiên Việt của can Đinh ở Hợi và Dậu, của can Kỷ ở Tý và Thân. Tuần của Đinh Tỵ (tuần Giáp Dần) ở Tý – Sửu, của Kỷ Tỵ ở Tuất – Hợi; Triệt của Đinh ở Dần – Mão, của Kỷ ở Thân – Dậu. Tứ hoá thì khác hoàn toàn: can Đinh cho Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Cự Môn. Nạp âm cũng khác: Đinh Tỵ là Sa Trung Thổ, Kỷ Tỵ là Đại Lâm Mộc, nên quan hệ mệnh cục đổi theo.

So như vậy để thấy một điều: kể cả chỉ xét phần theo năm, hai người cùng con giáp, cùng giới, cùng chiều vận vẫn có lá số khác nhau đáng kể. Thêm tháng, ngày, giờ thì khác nữa. Lá số là một hệ biểu tượng có cấu trúc chặt, đáng tìm hiểu như một di sản; dùng nó để quyết thay chuyện nghề, chuyện nhà là đặt lên nó một gánh nó không mang nổi.

Muốn tra năm sinh 1989 hợp màu, hướng, con số theo cách dân gian, có thể xem thêm tuviphongthuy.com.

Câu hỏi thường gặp

Nam Kỷ Tỵ đại vận đi chiều nào?

Đi nghịch. Kỷ là âm can, giới nam, nên thuộc âm nam; đại vận đi từ Mệnh sang Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch. Nữ Kỷ Tỵ là âm nữ nên đi thuận, sang Phụ Mẫu, Phúc Đức trước.

Vì sao người sinh năm 1989 đều đang ở vận Tử Tức?

Vận thứ tư bắt đầu từ cục số cộng ba mươi, tức từ 32 đến 36 tuổi tuỳ cục. Âm nam đi nghịch nên vận thứ tư rơi vào cung Tử Tức. Người sinh năm 1989 năm nay khoảng ba mươi bảy, ba mươi tám tuổi nên đều đang ở vận này.

Thiên Mã của tuổi Kỷ Tỵ có gặp Tuần không?

Có. Chi Tỵ thuộc nhóm Tỵ Dậu Sửu nên Thiên Mã ở Hợi; Kỷ Tỵ thuộc tuần Giáp Tý nên Tuần ở Tuất – Hợi. Thiên Mã vì vậy nằm trong Tuần, cùng Thiên Hư và Tuế Phá.

Văn Khúc hoá Kỵ có đáng lo không?

Không cần lo. Sách đọc Văn Khúc hoá Kỵ là chủ đề liên quan đến chữ nghĩa, giấy tờ, lời nói. Hiểu như lời nhắc cẩn thận khi cam kết bằng văn bản là đủ; nó đóng cung nào còn tuỳ giờ sinh.

Kỷ Tỵ và Đinh Tỵ có giống nhau trên lá số không?

Giống ở Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La và các sao theo chi Tỵ. Khác ở Khôi Việt, Tuần, Triệt, tứ hoá và nạp âm. Vì vậy không thể dùng lời luận của tuổi này cho tuổi kia.

Có nên dựa vào vận Phu Thê, Tử Tức để quyết chuyện cưới hỏi, sinh con?

Không nên. Các vận này chỉ gợi chủ đề theo cách đọc biểu tượng của sách xưa. Chuyện hôn nhân, con cái cần dựa vào hoàn cảnh thật, sức khoẻ, sự chuẩn bị của hai người và lời khuyên của người có chuyên môn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.