Mười can, mười ngôi sao hoá Kỵ: Giáp là Thái Dương, Ất là Thái Âm, Bính là Liêm Trinh, Đinh là Cự Môn, Mậu là Thiên Cơ, Kỷ là Văn Khúc, Canh là Thiên Đồng (có bản ghi Thái Âm), Tân là Văn Xương, Nhâm là Vũ Khúc, Quý là Tham Lang. Lưu Hoá Kỵ của một năm là ngôi sao hoá Kỵ theo can của năm ấy. Nó "vào cung Mệnh" khi ngôi sao đó đang đóng trong cung Mệnh của lá số. Vì vậy với mỗi lá số, chỉ những năm mang một vài can nhất định mới có lưu Kỵ vào Mệnh, và có lá số mà lưu Kỵ không bao giờ đóng trong Mệnh, chỉ chiếu tới. Sách đọc năm có lưu Kỵ vào Mệnh là năm hay vướng, hay lo; người đọc hôm nay nên hiểu đó là năm lá số đặt chữ "chú tâm" lên bản thân, không phải năm gặp nạn.
Bài này tính trên một lá số nữ giả định năm Quý Hợi, xét trường hợp lưu Kỵ chồng lên Kỵ gốc, các đường lưu Kỵ chiếu về Mệnh, và kết bằng câu hỏi chuẩn bị. Khái niệm tứ hoá lưu niên đã có ở bài nhập môn và bài ba tầng tứ hoá.
Những sao có thể và không thể hoá Kỵ
Trước khi tính, cần biết: không phải chính tinh nào cũng có lúc hoá Kỵ. Theo bảng tứ hoá phổ biến:
| Nhóm | Các sao | Hệ quả với cung Mệnh |
|---|---|---|
| Có lúc hoá Kỵ | Thái Dương, Thái Âm, Liêm Trinh, Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Vũ Khúc, Tham Lang, Văn Xương, Văn Khúc | Mệnh có một trong các sao này thì có năm lưu Kỵ đóng trong Mệnh |
| Không bao giờ hoá Kỵ | Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát, Thiên Lương, Phá Quân | Mệnh chỉ có các sao này thì lưu Kỵ không bao giờ đóng trong Mệnh, chỉ chiếu tới từ cung khác |
Đây là một chi tiết ít được nhắc nhưng rất có ích: người có Mệnh Tử Vi, Thất Sát hay Thiên Tướng đứng riêng sẽ không bao giờ có "năm lưu Kỵ vào Mệnh" theo nghĩa đóng trong cung. Những bài viết nói chung chung "năm nay tuổi này bị Kỵ vào Mệnh" mà không xét lá số cụ thể là đã bỏ qua điều này.
Dị bản cần nhớ: can Canh có bản ghi Thiên Đồng hoá Kỵ, có bản ghi Thái Âm; can Nhâm, can Mậu, can Tân có dị bản ở Hoá Khoa hoặc Hoá Quyền nhưng Hoá Kỵ thì các bản phổ biến khá thống nhất.
Lá số mẫu: khi nào lưu Kỵ chạm cung Mệnh
Lá số GIẢ ĐỊNH, không ứng với người thật: nữ, năm Quý Hợi, tháng Một âm lịch, ngày 28, giờ Dậu. Bản mệnh Đại Hải Thuỷ, Thuỷ nhị cục, âm nữ đi thuận. Mệnh tại Mão có Tử Vi, Tham Lang hoá Kỵ (Kỵ gốc của năm Quý), Thiên Khôi. Thân cư Thiên Di ở Dậu, cung không có chính tinh, mượn Tử Tham từ Mệnh.
| Can của năm đang xét | Lưu Hoá Kỵ | Đóng ở | Quan hệ với Mệnh (Mão) |
|---|---|---|---|
| Quý | Tham Lang | Mão, Mệnh | Đóng trong Mệnh, chồng lên Kỵ gốc |
| Nhâm | Vũ Khúc | Hợi, Tài Bạch | Hội về Mệnh từ tam hợp |
| Bính | Liêm Trinh | Mùi, Quan Lộc | Hội về Mệnh từ tam hợp |
| Các can khác | Thái Dương, Thái Âm, Cự Môn, Thiên Cơ, Văn Khúc, Thiên Đồng, Văn Xương | Các cung khác | Không đóng, không chiếu theo tam phương |
Kết quả: với lá số này, chỉ năm mang can Quý (mười năm một lần) mới có lưu Kỵ đóng trong Mệnh; năm can Nhâm và can Bính có lưu Kỵ hội về từ tam hợp. Cung xung chiếu là Dậu không có chính tinh, nên không có đường lưu Kỵ chiếu thẳng; nhưng người theo lối mượn sao sẽ nói năm can Quý, Thân cư Thiên Di (mượn Tử Tham) cũng nhận phần Kỵ ấy.
Lưu ý: bảng trên không gắn với năm dương lịch nào. Mỗi can trở lại mười năm một lần; người đọc tự đối chiếu nếu muốn, và nên nhớ rằng mọi người sinh cùng năm, cùng có Tham Lang ở Mệnh, sẽ gặp đúng hiện tượng này cùng một lúc.
Lưu Kỵ khác Kỵ gốc và Kỵ đại vận thế nào
Trên một lá số có thể có ba tầng Hoá Kỵ cùng lúc. Kỵ gốc (năm sinh) cố định suốt đời, nên sách coi nó là một nét tính cách hay một chủ đề thường trực. Kỵ đại vận, với phái dùng lớp này, đổi mười năm một lần, coi như chủ đề của một giai đoạn. Lưu Kỵ đổi mỗi năm, là lớp mỏng nhất, nhanh qua nhất.
Vì vậy, khi một sách nói "năm nay Kỵ vào Mệnh", cần hỏi lại: Kỵ nào. Lưu Kỵ vào Mệnh một năm là chuyện của mười hai tháng; Kỵ gốc ở Mệnh là chuyện của cả đời và được đọc như một nét tính cách, chẳng hạn người hay để tâm, hay đào sâu. Lẫn hai thứ này khiến người ta lo về một năm vì một đặc điểm đã có từ khi sinh ra.
Bài về ba tầng tứ hoá đã trình bày cách chồng các lớp. Ở đây chỉ nhấn: lưu Kỵ là lớp nhẹ nhất trong ba lớp, nên lời đọc về nó cũng nên nhẹ nhất.
Vì sao sáu chính tinh không bao giờ hoá Kỵ
Sách kinh điển không giải thích vì sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát, Thiên Lương, Phá Quân không có mặt trong cột Hoá Kỵ của bảng tứ hoá. Người đời sau đưa ra vài cách nhìn. Một cách cho rằng Tử Vi, Thiên Phủ là sao "chủ", ổn định, nên không bị "vướng". Một cách khác để ý rằng một số sao trong nhóm này vẫn có mặt ở cột Lộc, Quyền, Khoa (Tử Vi hoá Quyền, hoá Khoa; Thiên Lương hoá Lộc, hoá Quyền, hoá Khoa; Phá Quân hoá Lộc, hoá Quyền), chỉ thiếu cột Kỵ.
Những cách nhìn ấy đều là suy đoán. Điều chắc chắn chỉ là: bảng tứ hoá phân bố không đều, và sự không đều ấy có hệ quả thực hành, như lá số mẫu cho thấy. Người đọc có thể thấy thú vị khi biết rằng một hệ thống tưởng như cân đối lại có những "khoảng trống" như vậy.
Khoảng trống ấy cũng là một lời nhắc khiêm tốn: những bảng ta dùng để đọc lá số là sản phẩm của người xưa, có lịch sử, có dị bản, có chỗ chưa giải thích được. Tôn trọng chúng như di sản không đồng nghĩa với coi chúng là luật tự nhiên.
Kỵ chồng Kỵ: sách nói gì
Năm can Quý trên lá số này là năm mà sách gọi là "song Kỵ" hay "Kỵ chồng Kỵ": Tham Lang vốn mang Hoá Kỵ từ năm sinh, nay nhận thêm lưu Kỵ. Trong lối luận cổ, đây là một tổ hợp được bàn kỹ, thường đọc là sự vướng mắc tăng lên gấp bội, tâm trí bị kéo vào một việc, dễ nghĩ quẩn.
Có sách lại nói ngược: Kỵ gặp Kỵ thì "xung phá" lẫn nhau, cái vướng được tháo ra. Lối đọc này ít phổ biến hơn nhưng có thật trong truyền thống, và nó nhắc rằng ngay cả một tổ hợp được coi là nặng cũng có ít nhất hai cách hiểu.
Người đọc hôm nay có thể chuyển cả hai lối thành một câu hỏi: trong năm ấy, điều gì đang chiếm nhiều chỗ nhất trong tâm trí mình, và mình đang đối diện nó hay né tránh. Tham Lang trong sách là ham muốn, sự lanh lợi, sự tìm kiếm; song Kỵ trên Tham Lang có thể gợi người đọc nhìn lại những ham muốn đang kéo mình theo nhiều hướng.
Lưu Kỵ hội về từ tam hợp
Năm can Nhâm, Vũ Khúc hoá Kỵ đóng ở Hợi, cung Tài Bạch, cùng Phá Quân (mang Hoá Lộc gốc) và Đà La. Hợi nằm trong tam hợp với Mão, nên lưu Kỵ hội về Mệnh. Sách hay đọc Vũ Khúc hoá Kỵ là chuyện tiền bạc cần chú tâm; đứng cạnh Phá Quân hoá Lộc gốc, có người sẽ nói "Lộc gặp Kỵ" trong cùng cung. Câu hỏi chuẩn bị: thu chi của mình có minh bạch không, có khoản nào cần sắp xếp lại không.
Năm can Bính, Liêm Trinh hoá Kỵ đóng ở Mùi, cung Quan Lộc, cùng Thất Sát. Mùi cũng nằm trong tam hợp của Mão. Sách đọc Liêm Trinh hoá Kỵ ở Quan Lộc là công việc có chỗ vướng về quy tắc, giấy tờ. Câu hỏi chuẩn bị: mình có đang làm việc trong một khuôn khổ rõ ràng không, có điều gì cần được thống nhất bằng văn bản không.
Hai trường hợp này cho thấy lưu Kỵ "chạm" Mệnh theo nhiều đường, và mỗi đường mang một chủ đề khác. Người đọc chỉ nhìn vào câu "năm nay Kỵ vào Mệnh" sẽ bỏ lỡ sự khác biệt ấy.
Đặt lưu Kỵ lên nền đại vận và tiểu hạn
Như mọi lớp lưu niên, lưu Kỵ chỉ có nghĩa khi đặt trên nền đại vận. Với lá số này, đại vận đi thuận từ Mão: Mão (2–11), Thìn (12–21), Tỵ (22–31), Ngọ (32–41), Mùi (42–51)… Một năm can Quý rơi vào đại vận Ngọ (cung Điền Trạch, Thiên Lương) được đọc khác hẳn một năm can Quý rơi vào đại vận Mùi (cung Quan Lộc, Liêm Trinh, Thất Sát).
Ngoài ra, năm ấy còn có tiểu hạn và lưu Thái Tuế riêng; nếu tiểu hạn cũng rơi vào Mệnh, người luận theo sách sẽ nói các lớp dồn về một chỗ. Nếu tiểu hạn ở xa, lớp lưu Kỵ được đọc nhẹ đi. Đó là lý do bài viết ở đây không thể, và không nên, nói một năm cụ thể của ai là "năm Kỵ nặng".
Với người tự học, cách làm hợp lý là lập một bảng ba cột: năm theo can chi (không cần năm dương lịch), cung lưu Kỵ, cung đại vận và tiểu hạn của năm ấy. Đọc ba cột cạnh nhau sẽ thấy lưu Kỵ chỉ là một sợi chỉ trong tấm vải.
Câu hỏi để tự chuẩn bị, và giới hạn của lá số
Với năm có lưu Kỵ đóng trong Mệnh hoặc hội về Mệnh, có thể viết ra những câu hỏi: điều gì đang khiến mình lo nghĩ nhiều nhất, mình đã nói nó ra với ai chưa; mình có đang ôm quá nhiều việc cùng lúc không; mình có cách nào để đầu óc được nghỉ không. Nếu lưu Kỵ đến từ cung Tài Bạch, thêm câu hỏi về thu chi; nếu từ Quan Lộc, thêm câu hỏi về khuôn khổ công việc.
Không nên dùng lưu Kỵ để hoãn hay vội một quyết định lớn, để tránh ký một hợp đồng, hay để lo trước cả năm. Những việc ấy cần thông tin thật và lời khuyên chuyên môn. Một năm mang can nào đó trở lại đều đặn mười năm một lần với hàng triệu người; nó không thể là lời báo riêng cho ai.
Tứ hoá, kể cả Hoá Kỵ, là một phần đẹp của hệ biểu tượng tử vi: bốn trạng thái của sự vật (thông, mạnh, sáng, vướng) xoay vòng theo can. Đọc chúng như một cách nhìn thì có ích; đọc chúng như lời phán thì vừa sai với tinh thần sách tốt, vừa gây lo âu không cần thiết.
Câu hỏi thường gặp
Lưu Hoá Kỵ vào cung Mệnh là năm xấu phải không?
Không nên hiểu như vậy. Sách đọc năm ấy là năm hay vướng, hay lo; cách hiểu hữu ích là năm lá số đặt chữ "chú tâm" lên bản thân. Lời đọc còn phụ thuộc đại vận, tiểu hạn và các sao khác.
Làm sao biết năm nào lưu Kỵ vào Mệnh của mình?
Xem cung Mệnh có những sao nào, rồi tra bảng: can Giáp Kỵ ở Thái Dương, Ất ở Thái Âm, Bính ở Liêm Trinh, Đinh ở Cự Môn, Mậu ở Thiên Cơ, Kỷ ở Văn Khúc, Canh ở Thiên Đồng hoặc Thái Âm, Tân ở Văn Xương, Nhâm ở Vũ Khúc, Quý ở Tham Lang.
Mệnh có Tử Vi hoặc Thất Sát thì có bị lưu Kỵ không?
Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát, Thiên Lương, Phá Quân không bao giờ hoá Kỵ. Mệnh chỉ có các sao này thì lưu Kỵ không đóng trong Mệnh, chỉ có thể chiếu tới từ cung xung chiếu hoặc tam hợp.
Kỵ chồng Kỵ có đáng lo không?
Sách cổ phần lớn đọc là vướng mắc tăng thêm, có sách lại nói hai Kỵ gặp nhau thì tháo bớt. Không có cách nào kiểm chứng. Nên dùng nó làm dịp nhìn lại điều đang chiếm tâm trí mình, không phải để lo lắng.
Có nên hoãn ký hợp đồng trong năm lưu Kỵ vào Mệnh không?
Không nên lấy lá số làm lý do. Hợp đồng cần được xem xét bằng nội dung, điều khoản và tư vấn pháp lý khi cần. Lưu Kỵ chỉ gợi lời nhắc chung là đọc kỹ giấy tờ, điều mà ai cũng nên làm.
Vì sao bài không chỉ ra năm cụ thể?
Vì trang này không áp lá số vào năm thật của tuổi thật. Mỗi can trở lại mười năm một lần với rất nhiều người; lời đọc chỉ có ý nghĩa trên một lá số đầy đủ và vẫn chỉ là tham khảo văn hoá.