Bàn Thái Ất có hai vòng không gian lồng nhau: chín cung, trong đó Thái Ất và các tướng đứng ở tám cung ngoài, và vòng mười sáu thần gồm mười hai địa chi cộng bốn quẻ góc Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Mỗi phương trong mười sáu phương có một tên thần riêng như Địa Chủ ở Tý, Đại Uy ở Ngọ; các yếu tố Văn Xương, Thuỷ Kích, Kế thần được an trên vòng này, còn đại tướng, tham tướng thì an theo cung.
Hiểu được hai vòng ấy là đọc được một dòng ghi cục trong sách Thái Ất, vốn viết rất cô đọng kiểu "Thái Ất cư nhị cung, Văn Xương tại Đại Thần, Thuỷ Kích tại Âm Đức, chủ toán mười hai". Bài này trình bày cách sách đánh số chín cung, bảng mười sáu thần, ý nghĩa các yếu tố và các bước đọc một dòng như thế.
Chín cung của Thái Ất được đánh số khác Lạc thư
Người quen Kỳ Môn sẽ chờ thấy số Lạc thư: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, giữa 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9. Nhưng nhiều bản sách Thái Ất đánh số cung theo một cách riêng: Càn 1, Ly 2, Cấn 3, Chấn 4, giữa 5, Đoài 6, Khôn 7, Khảm 8, Tốn 9. Hai cách vẫn giữ chung một tính chất: hai cung đối nhau qua tâm luôn cộng lại bằng 10 (Càn 1 với Tốn 9, Ly 2 với Khảm 8, Cấn 3 với Khôn 7, Chấn 4 với Đoài 6).
Vì Thái Ất khởi đi từ cung 1, cách đánh số này đồng nghĩa với việc Thái Ất bắt đầu vòng ở Càn, phương Tây Bắc, mà sách gọi là "thiên môn" (cửa trời), rồi qua Ly ở Nam, Cấn ở Đông Bắc, Chấn ở Đông, bỏ cung giữa, sang Đoài ở Tây, Khôn ở Tây Nam, Khảm ở Bắc và kết thúc ở Tốn, phương Đông Nam mà sách gọi là "địa hộ" (cửa đất). Bốn góc Càn, Tốn, Khôn, Cấn có tên cổ là thiên môn, địa hộ, nhân môn, quỷ môn.
Đây là chi tiết rất hay bị nhầm: nhiều bài viết tiếng Việt mặc nhiên dùng số Lạc thư để giải thích Thái Ất, dẫn tới đặt Thái Ất sai cung. Khi đọc một sách cụ thể, việc đầu tiên là xem phần đầu sách quy định số cung thế nào, vì cũng có bản chép khác.
Vòng mười sáu thần
Mười sáu thần được đặt đều quanh bàn. Tên dưới đây theo cách chép phổ biến; một vài tên có dị bản giữa các sách, nên khi đối chiếu cần ghi nguồn.
| Phương | Tên thần | Phương | Tên thần |
|---|---|---|---|
| Tý | Địa Chủ | Ngọ | Đại Uy |
| Sửu | Dương Đức | Mùi | Thiên Đạo |
| Cấn | Hoà Đức | Khôn | Đại Vũ |
| Dần | Lã Thân | Thân | Vũ Đức |
| Mão | Cao Tùng | Dậu | Thái Thốc |
| Thìn | Thái Dương | Tuất | Âm Chủ |
| Tốn | Đại Quýnh | Càn | Âm Đức |
| Tỵ | Đại Thần | Hợi | Đại Nghĩa |
Nhìn tên sẽ thấy dấu ấn âm dương: nửa bên Tý, Sửu có Địa Chủ, Dương Đức; nửa bên Tuất, Càn có Âm Chủ, Âm Đức, như hai cực của một vòng khí. Vì vòng có mười sáu điểm, mỗi điểm cách nhau 22,5 độ, mịn hơn vòng mười hai chi; nhờ vậy các yếu tố đi trên vòng thần có thể dừng ở bốn góc mà mười hai chi không biểu diễn được.
Các yếu tố chính trên bàn và vai trò
Thái Ất. Đứng ở một trong tám cung ngoài, đổi cung mỗi ba năm theo tuế kế. Là trung tâm mà mọi quan hệ khác được so với.
Văn Xương (Thiên Mục). Đi trên vòng mười sáu thần theo cục số, thuộc phe chủ. Từ vị trí Văn Xương tính ra chủ toán.
Thuỷ Kích (Địa Mục). Suy từ Văn Xương và Kế thần, thuộc phe khách. Từ vị trí Thuỷ Kích tính ra khách toán. Tên "kích" gợi bên ra tay trước.
Kế thần. Một yếu tố phụ trợ đi trên vòng thần, dùng làm mốc để định Thuỷ Kích. Có bản gọi là Hợp thần hoặc kèm thêm Định mục.
Chủ đại tướng, chủ tham tướng. Hai tướng của phe chủ, an theo cung, xác định từ chủ toán: đại tướng theo chữ số hàng đơn vị, tham tướng theo phép nhân ba rồi lấy dư, theo cách trình bày phổ biến.
Khách đại tướng, khách tham tướng. Hai tướng của phe khách, xác định tương tự từ khách toán. So vị trí bốn tướng với Thái Ất cho ra các thế yểm, bách, tù, kích, cách, đối.
Tứ thần, Thiên Ất, Địa Ất, Trực phù, tiểu du, đại du. Các yếu tố bổ sung có chu kỳ riêng, được sách dùng để thêm sắc thái. Mỗi bản sách nhấn những yếu tố này ở mức khác nhau.
Các thế quan hệ sách hay nhắc
Phần luận của Thái Ất dựa nhiều vào quan hệ vị trí giữa các tướng và Thái Ất. Tên gọi mang hình ảnh binh pháp:
- Yểm: Thuỷ Kích đứng trùng hoặc che lên chỗ Thái Ất; sách coi là thế bên khách lấn át trung tâm.
- Bách: một tướng đứng sát bên cạnh cung Thái Ất, gây sức ép từ bên sườn; chia bách trong, bách ngoài.
- Tù: tướng đứng ngay cung của Thái Ất, như bị giam cùng chỗ với trung tâm.
- Kích: tướng ở vị trí tấn công Thái Ất theo phương lệch; có kích trong, kích ngoài.
- Cách: tướng đứng đối diện, ngăn trở giữa hai phe.
- Đối: tướng ở cung đối xứng qua tâm với Thái Ất.
Định nghĩa chính xác của từng thế khác nhau giữa các bản, nhất là ranh giới giữa bách và kích. Người đọc nên coi danh sách trên như bản đồ khái niệm để nhận ra chữ trong sách, không phải bộ quy tắc chuẩn duy nhất. Trong ngôn ngữ hôm nay, đây là cách người xưa mã hoá những tình huống quân sự quen thuộc thành quan hệ hình học trên một bàn tròn.
Đọc một dòng ghi cục trong sách cổ
Sách Thái Ất thường có bảng 72 cục, mỗi cục một đoạn ngắn. Ví dụ giả định một dòng như sau: "Dương độn đệ thập cục, Thái Ất cư tứ cung, Văn Xương tại Đại Quýnh, Thuỷ Kích tại Đại Nghĩa, chủ toán thập nhị, khách toán ngũ". Cách đọc từng phần:
- "Dương độn đệ thập cục": cục thứ mười, các tướng đi theo dương độn.
- "Thái Ất cư tứ cung": Thái Ất ở cung 4, theo cách đánh số của Thái Ất là Chấn, phương Đông (nếu sách dùng số riêng); nếu nhầm sang số Lạc thư sẽ ra Tốn, sai hướng.
- "Văn Xương tại Đại Quýnh": Văn Xương đứng ở phương Tốn trên vòng mười sáu thần.
- "Thuỷ Kích tại Đại Nghĩa": Thuỷ Kích ở phương Hợi.
- "Chủ toán thập nhị, khách toán ngũ": chủ toán 12, khách toán 5; từ đây sách suy ra cung của chủ đại tướng, chủ tham tướng, khách đại tướng, khách tham tướng.
- Cuối dòng thường có ghi chú thế như "chủ tướng bị bách" hay "khách yểm", và một lời luận ngắn.
Dòng trên là ví dụ giả định để luyện đọc thuật ngữ, không trích từ bảng của sách nào và không ứng với năm thật nào. Khi đọc bảng thật, nên chép từng cục ra lưới chín cung và vòng mười sáu thần bằng tay; nhìn thấy vị trí trên hình thì các thế quan hệ mới hiện ra rõ.
Những lỗi hay gặp khi tự dựng bàn Thái Ất
Người tự học thường vấp ở cùng một số chỗ. Biết trước các lỗi này giúp đọc sách và đối chiếu tài liệu chính xác hơn:
- Lẫn hệ số cung. Dùng số Lạc thư cho sách vốn dùng số riêng của Thái Ất, hoặc ngược lại; chỉ một lỗi này đã đặt Thái Ất sai hướng ở gần hết các cục.
- Lẫn vòng. An Văn Xương, Thuỷ Kích lên chín cung thay vì vòng mười sáu thần, hoặc an đại tướng lên vòng thần thay vì cung. Hai vòng có vai trò khác nhau, không thay thế cho nhau.
- Lấy tích niên của sách này, bảng cục của sách khác. Mốc thượng nguyên khác nhau thì cục số khác; ghép chéo hai nguồn là cả cục lệch.
- Quên quy tắc dừng thêm. Nhiều bản cho Văn Xương lưu thêm ở một số vị trí; bỏ qua quy tắc này thì từ cục thứ mấy trở đi, Văn Xương sẽ đi lệch so với bảng.
- Đổi năm ở ngày mùng một Tết hay ở lập xuân. Sách khác nhau chọn mốc đổi năm khác nhau; năm sinh hay năm sự kiện rơi vào khoảng giữa hai mốc rất dễ bị tính nhầm.
- Tin bảng tính sẵn không ghi nguồn. Bảng trên mạng thường chép lại lẫn nhau, không nói theo sách nào, nên sai cũng không kiểm được.
Cách phòng lỗi tốt nhất là chọn một sách, ghi rõ tên sách và bản in, rồi đi trọn bộ quy tắc của sách ấy từ tích niên tới tướng, đối chiếu với vài cục mẫu sách đã tính sẵn trước khi tự tính.
Vì sao bàn Thái Ất là một mô hình đẹp
Đặt hai vòng không gian lồng nhau, một vòng tám cung với bước lớn và một vòng mười sáu thần với bước nhỏ, Thái Ất tạo ra một hệ tọa độ hai lớp cho thời gian. Các yếu tố đi với tốc độ khác nhau trên hai vòng, nên tổ hợp của chúng lặp lại theo chu kỳ dài, giống cách các bánh răng ăn khớp trong một chiếc đồng hồ thiên văn.
Nhìn như vậy, bàn Thái Ất là bằng chứng về trình độ tư duy hình học và chu kỳ của các nhà thiên văn, lịch số xưa. Nó đáng được nghiên cứu cùng lịch sử bàn thức, đồng hồ nước và các bảng lịch, như một phần của lịch sử khoa học phương Đông.
Còn khi sách gán cho mỗi thế "yểm", "bách" một lời luận về thời cuộc, đó là lớp quy ước của truyền thống. Bàn thức không biết gì về năm tháng của chúng ta; nó chỉ là một hệ ký hiệu mà người xưa dùng để suy nghĩ về thời gian. Trang này dừng ở việc giải thích cấu trúc, không luận vận năm hay thời sự.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Thái Ất dùng mười sáu thần thay vì mười hai chi?
Mười sáu phương cho độ chia mịn hơn, có thêm bốn góc Càn, Khôn, Cấn, Tốn mà vòng mười hai chi không có điểm riêng. Nhờ vậy các yếu tố như Văn Xương có thể dừng ở bốn góc, và quan hệ giữa vòng thần với tám cung khớp nhau tốt hơn.
Tên mười sáu thần có ý nghĩa gì không?
Mỗi tên mang một hình ảnh âm dương hoặc đức tính, như Dương Đức, Âm Đức, Đại Uy, Đại Nghĩa. Sách cổ ít giải thích riêng từng tên; nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chúng là tên quy ước được truyền lại, dùng để đọc vị trí hơn là để luận nghĩa từng chữ.
Văn Xương trong Thái Ất có giống sao Văn Xương trong lá số đẩu số không?
Không. Văn Xương trong Thái Ất là một yếu tố chỉ vị trí phe chủ trên vòng mười sáu thần. Văn Xương trong đẩu số là một phụ tinh an theo giờ sinh, gắn với học hành, văn chương. Hai cái tên trùng nhau nhưng thuộc hai hệ khác hẳn.
Có bản vẽ bàn Thái Ất cổ còn lại không?
Sách Thái Ất in và chép tay thường có hình vẽ chín cung và vòng thần ở phần đầu. Hiện vật khảo cổ đời Hán như bàn chín cung ở Song Cổ Đôi cho thấy hình thức sớm của ý niệm Thái Nhất hành cửu cung, dù chưa phải bàn Thái Ất thần số đầy đủ.
Chủ và khách trong Thái Ất nên hiểu thế nào?
Trong bối cảnh gốc, chủ là bên giữ đất, bên ở yên; khách là bên đến, bên ra tay trước. Sách dùng hai phe để bàn thế quân sự và thời cuộc. Đọc hôm nay, đó là một cặp khái niệm động và tĩnh của tư duy binh pháp xưa.
Có nên tự dựng bàn Thái Ất để luận việc không?
Có thể dựng để hiểu cấu trúc và luyện đọc sách, giống như giải một bài toán lịch số. Còn dùng nó để quyết định việc thật thì không có cơ sở, vì lời luận là quy ước của truyền thống và chính các sách cũng mâu thuẫn nhau ở nhiều chỗ.