Đại vận chia đời người thành từng mười năm, tiểu hạn và lưu niên chia thành từng năm. Nguyệt hạn đi thêm một bậc: chia một năm thành mười hai tháng, mỗi tháng gắn với một cung. Cách phổ biến ở Việt Nam là an sao Đẩu Quân: từ cung của lưu Thái Tuế (cung có chi trùng chi của năm đang xét) coi là tháng Giêng, đếm nghịch tới tháng sinh; từ cung đó coi là giờ Tý, đếm thuận tới giờ sinh. Cung tìm được là Đẩu Quân, cũng là nguyệt hạn tháng Giêng của năm ấy; tháng Hai ở cung kế tiếp theo chiều thuận, và cứ thế đủ mười hai tháng.
Bài này đi từng bước an Đẩu Quân trên một lá số nữ giả định, lập bảng mười hai tháng cho hai năm có chi khác nhau, nêu các dị bản và giải thích vì sao nguyệt hạn là lớp nhẹ nhất trong các lớp đọc vận. Phần ý nghĩa của sao Đẩu Quân là chủ đề của bài phụ tinh riêng.
An Đẩu Quân từng bước
Lá số GIẢ ĐỊNH, không ứng với người thật: nữ, năm Giáp Dần, sinh tháng Mười âm lịch, ngày 17, giờ Mùi. Mệnh tại Thìn có Thất Sát, Địa Không. Giả sử năm đang xét mang chi Thìn (không gắn với năm dương lịch nào):
- Lưu Thái Tuế của năm chi Thìn đóng ở cung Thìn. Coi cung Thìn là tháng Giêng.
- Từ Thìn đếm nghịch tới tháng sinh là tháng Mười: Thìn tháng Giêng, Mão tháng Hai, Dần tháng Ba, Sửu tháng Tư, Tý tháng Năm, Hợi tháng Sáu, Tuất tháng Bảy, Dậu tháng Tám, Thân tháng Chín, Mùi tháng Mười. Dừng ở Mùi.
- Từ Mùi coi là giờ Tý, đếm thuận tới giờ sinh là giờ Mùi: Mùi giờ Tý, Thân giờ Sửu, Dậu giờ Dần, Tuất giờ Mão, Hợi giờ Thìn, Tý giờ Tỵ, Sửu giờ Ngọ, Dần giờ Mùi. Dừng ở Dần.
- Đẩu Quân của năm ấy đóng ở Dần. Theo cách dùng phổ biến, Dần là nguyệt hạn tháng Giêng; tháng Hai ở Mão, tháng Ba ở Thìn, và đi thuận tiếp.
Có một lối tính tắt: với người sinh tháng m, giờ thứ h (giờ Tý là 0), Đẩu Quân nằm ở cung lưu Thái Tuế lùi m trừ một bước rồi tiến h bước. Ở ví dụ, lùi chín, tiến bảy, tức lùi hai cung từ Thìn, ra Dần. Mọi người sinh cùng tháng, cùng giờ đều có cùng độ lệch ấy; chỉ chi của năm đổi thì Đẩu Quân dời theo.
Điều này cũng có nghĩa Đẩu Quân không phụ thuộc năm sinh, ngày sinh hay giới tính. Hai người khác tuổi, khác giới nhưng cùng tháng, giờ sinh sẽ có nguyệt hạn tháng Giêng ở cùng một cung trong cùng một năm, dù cung ấy mang tên khác nhau trên hai lá số.
Bảng nguyệt hạn hai năm khác chi
Với lá số giả định ở trên, bảng dưới ghi nguyệt hạn từng tháng trong một năm chi Thìn và một năm chi Ngọ, kèm tên cung và chính tinh trên lá số:
| Tháng | Năm chi Thìn: cung | Tên cung, chính tinh | Năm chi Ngọ: cung | Tên cung, chính tinh |
|---|---|---|---|---|
| Giêng | Dần | Phu Thê: Vũ Khúc, Thiên Tướng | Thìn | Mệnh: Thất Sát |
| Hai | Mão | Huynh Đệ: Thái Dương, Thiên Lương | Tỵ | Phụ Mẫu: Thiên Cơ |
| Ba | Thìn | Mệnh: Thất Sát | Ngọ | Phúc Đức: Tử Vi |
| Tư | Tỵ | Phụ Mẫu: Thiên Cơ | Mùi | Điền Trạch: không chính tinh |
| Năm | Ngọ | Phúc Đức: Tử Vi | Thân | Quan Lộc: Phá Quân |
| Sáu | Mùi | Điền Trạch: không chính tinh | Dậu | Nô Bộc: không chính tinh |
| Bảy | Thân | Quan Lộc: Phá Quân | Tuất | Thiên Di: Liêm Trinh, Thiên Phủ |
| Tám | Dậu | Nô Bộc: không chính tinh | Hợi | Tật Ách: Thái Âm |
| Chín | Tuất | Thiên Di: Liêm Trinh, Thiên Phủ | Tý | Tài Bạch: Tham Lang |
| Mười | Hợi | Tật Ách: Thái Âm | Sửu | Tử Tức: Thiên Đồng, Cự Môn |
| Một | Tý | Tài Bạch: Tham Lang | Dần | Phu Thê: Vũ Khúc, Thiên Tướng |
| Chạp | Sửu | Tử Tức: Thiên Đồng, Cự Môn | Mão | Huynh Đệ: Thái Dương, Thiên Lương |
Năm chi Ngọ, Đẩu Quân dời hai cung so với năm chi Thìn, nên toàn bộ dãy tháng trượt theo. Trong năm chi Ngọ, tháng Giêng trùng ngay cung Mệnh gốc của lá số. Người luận theo sách sẽ nói tháng ấy các sao gốc ở Mệnh được nhấn mạnh; với lá số này là Thất Sát và Địa Không.
Đọc một tháng: đặt lên ba lớp nền
Nguyệt hạn không bao giờ được đọc một mình. Một tháng nằm trong một năm, năm ấy có tiểu hạn và lưu niên, và cả năm lại nằm trong một đại vận. Thứ tự nền đúng là: đại vận trước, rồi lưu niên và tiểu hạn, sau cùng mới tới nguyệt hạn. Một tháng rơi vào cung có sao tốt trong một năm nhiều sức ép vẫn được đọc dè dặt; ngược lại cũng vậy.
Lấy ví dụ tháng Năm của năm chi Thìn trong bảng: nguyệt hạn ở Ngọ, cung Phúc Đức có Tử Vi và Địa Kiếp. Một người đọc theo sách sẽ hỏi tiếp: năm ấy tiểu hạn ở đâu, đại vận đang ở cung nào, có lưu Kình Đà, lưu Hoá Kỵ nào chạm vào Ngọ không. Chỉ khi có đủ các lớp ấy mới bàn được một tháng, và ngay cả khi đó, lời bàn cũng rất mỏng.
Với người tự học, cách hợp lý là dùng nguyệt hạn như một lịch nhắc việc theo chủ đề: tháng rơi vào cung Điền Trạch thì kiểm tra những việc nhà cửa còn tồn; tháng rơi vào Tật Ách thì xem lại lịch khám sức khoẻ định kỳ; tháng rơi vào Phụ Mẫu thì dành thời gian thăm cha mẹ. Mỗi lời nhắc đều vô hại và đều đáng làm dù không có lá số.
Các dị bản về nguyệt hạn
Dị bản thứ nhất là điểm khởi. Cách trên khởi từ cung lưu Thái Tuế. Một số sách Việt Nam khởi từ cung tiểu hạn của năm thay vì cung lưu Thái Tuế; theo lối đó, Đẩu Quân phụ thuộc cả tuổi và giới, nên hai người cùng tháng giờ sinh sẽ có nguyệt hạn khác nhau. Hai lối cho hai bảng khác nhau trên cùng một lá số.
Dị bản thứ hai là chiều đi của các tháng sau tháng Giêng. Phổ biến là đi thuận; một số tài liệu bàn chiều đi khác cho nữ, dù ít gặp. Dị bản thứ ba là cách dùng: có phái coi Đẩu Quân chỉ là một sao (chủ về sự nghiêm, sự cẩn trọng) đóng ở một cung trong năm, không dùng để chia tháng; có phái dùng nó để chia tháng như trên; có phái chia tháng theo cách hoàn toàn khác, lấy can chi của tháng làm lưu nguyệt.
Với một lớp đọc có nhiều dị bản như vậy, người đọc cẩn trọng nên ghi rõ mình theo lối nào ở đầu trang ghi chép. Khi so với sách, nếu bảng của mình lệch bảng trong sách, trước khi kết luận ai sai hãy kiểm tra hai bên có cùng điểm khởi không.
Vì sao nguyệt hạn là lớp nhẹ nhất
Có ba lý do. Thứ nhất, đơn vị thời gian càng ngắn thì số yếu tố đời thực chen vào càng nhiều, còn lá số thì vẫn chỉ có mười hai cung. Một tháng của đời người có vô số việc, không thể gói vào một ô.
Thứ hai, nguyệt hạn được tính từ rất ít dữ kiện: chi của năm, tháng sinh, giờ sinh. Mọi người sinh cùng tháng, cùng giờ có nguyệt hạn trùng cung trong cùng một năm. Một lớp chung cho một nhóm lớn người như thế khó mang thông tin riêng.
Thứ ba, các sách cổ kinh điển dành rất ít chỗ cho nguyệt hạn; phần lớn lời bàn chi tiết theo tháng xuất hiện trong sách phổ thông về sau. Điều đó không làm nó vô giá trị như một hiện tượng văn hoá, nhưng là lý do để đọc nó nhẹ tay.
Thêm một điểm kỹ thuật: vì Đẩu Quân dời theo chi của năm, mỗi năm dãy tháng trượt một cung. Sau mười hai năm, tháng Giêng đã đi qua đủ mười hai cung. Như vậy không có cung nào "thường trực" là tháng xấu hay tháng tốt của một người; mọi chủ đề đều luân phiên.
Ghi nhận ba lý do trên, người đọc có thể vẫn thấy nguyệt hạn thú vị như một cách tổ chức năm theo mười hai chủ đề, miễn là không dùng nó để chọn tháng làm việc lớn hay để lo trước một tháng nào đó.
Một thử nghiệm nhỏ cho người tò mò
Người muốn tự kiểm nguyệt hạn có thể làm một thử nghiệm trung thực. Đầu năm, lập bảng mười hai tháng với cung nguyệt hạn, nhưng đừng đọc lời luận nào. Mỗi cuối tháng, ghi ba sự việc nổi bật nhất trong tháng, viết bằng lời thường. Cuối năm, mới đặt nhật ký cạnh bảng và tự hỏi: có bao nhiêu tháng mà sự việc khớp với chủ đề của cung, có bao nhiêu tháng không khớp.
Điều quan trọng là thứ tự: ghi sự việc trước, đọc lá số sau. Nếu làm ngược lại, đọc lời luận rồi mới sống qua tháng, rất dễ rơi vào hiệu ứng tự xác nhận: ta nhớ những gì khớp, quên những gì không khớp, và lời luận nào cũng có vẻ đúng. Hiện tượng này được tâm lý học mô tả từ lâu và là lý do chính khiến những lời đoán chung chung nghe "trúng".
Thử nghiệm ấy không chứng minh hay bác bỏ được cả hệ thống, nhưng nó giúp người đọc có một quan hệ lành mạnh với lá số: tò mò, có kiểm tra, không lệ thuộc. Đó cũng là thái độ mà người xưa có học vẫn giữ khi bàn về các môn số: coi chúng như một cách nhìn, không như mệnh lệnh.
Câu hỏi chuẩn bị theo tháng, và một lời nhắc
Nếu muốn dùng nguyệt hạn như một công cụ tự soi, có thể lập một trang mười hai dòng: mỗi tháng một dòng, ghi cung nguyệt hạn và một câu hỏi gắn với cung. Tháng ở Quan Lộc: việc gì trong công việc mình đang trì hoãn. Tháng ở Huynh Đệ: đã lâu chưa liên lạc với anh chị em, bạn bè. Tháng ở Tài Bạch: thu chi tháng này có gì cần ghi lại. Cuối năm đọc lại, sẽ thấy trang ấy giống một cuốn sổ tay hơn là một lá số.
Đó cũng là tinh thần nên giữ với mọi lớp đọc vận. Lá số là một hệ biểu tượng có cấu trúc đẹp, có thể gợi cho ta những câu hỏi đúng lúc. Nó không biết được tháng tới của ai sẽ ra sao, và không có tháng nào "nên tránh" chỉ vì nguyệt hạn rơi vào một cung có sao dữ.
Quyết định về việc làm, sức khoẻ, tiền bạc, gia đình cần dựa vào thông tin và hoàn cảnh thật. Nếu thấy mình bắt đầu lo lắng vì một tháng trên lá số, đó là lúc nên gác lá số lại.
Câu hỏi thường gặp
Nguyệt hạn tháng Giêng tính thế nào?
Theo cách phổ biến, từ cung lưu Thái Tuế của năm (cung có chi trùng chi năm) coi là tháng Giêng, đếm nghịch tới tháng sinh, rồi từ đó coi là giờ Tý đếm thuận tới giờ sinh. Cung tìm được là Đẩu Quân, cũng là nguyệt hạn tháng Giêng.
Các tháng sau tháng Giêng đi chiều nào?
Phổ biến là đi thuận: tháng Hai ở cung kế tiếp theo chiều Tý, Sửu, Dần, và cứ thế tới tháng Chạp. Một số tài liệu bàn cách khác nhưng ít gặp, nên cần ghi rõ mình theo lối nào.
Đẩu Quân có phụ thuộc năm sinh hay giới tính không?
Theo cách khởi từ lưu Thái Tuế thì không: chỉ phụ thuộc chi của năm đang xét, tháng sinh và giờ sinh. Nếu theo dị bản khởi từ cung tiểu hạn thì có, vì tiểu hạn phụ thuộc tuổi và giới.
Tháng có nguyệt hạn rơi vào cung xấu có nên tránh làm việc lớn không?
Không nên. Nguyệt hạn là lớp nhẹ nhất trong các lớp đọc vận, tính từ rất ít dữ kiện và chung cho nhiều người. Chọn thời điểm làm việc lớn nên dựa vào điều kiện thật, không dựa vào ô lá số của một tháng.
Nguyệt hạn trùng cung Mệnh gốc có ý nghĩa gì?
Sách hay nói tháng ấy các sao gốc ở Mệnh được nhấn mạnh. Đây chỉ là một lối đọc; nó xảy ra đều đặn với mọi người. Nên coi đó là dịp tự hỏi mình đang chăm sóc bản thân thế nào, không phải lời báo trước.
Có cách nào dùng nguyệt hạn mà không mê tín không?
Có thể dùng như một lịch nhắc việc theo chủ đề: mỗi tháng gắn với một cung, ghi một câu hỏi tương ứng như nhà cửa, sức khoẻ, gia đình, công việc. Cách này không cần tin vào dự báo mà vẫn giúp sắp xếp năm có chủ đích.