ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Lá số tuổi Canh Tý nam mạng: Kình Dương gặp Đào Hoa ở Dậu, Đà La trong Triệt

Nam Canh Tý (1960, 2020) là dương nam, vận thuận; Lộc Tồn ở Thân, Kình Dương ở Dậu cùng Đào Hoa, Đà La và Thiên Việt ở Mùi gặp Triệt, Tuần ở Thìn–Tỵ.

A grey-haired Vietnamese man seen from behind holding a sleeping toddler on his shoulder in a quiet tiled courtyard at evening, potted plants and a warm lantern

Các câu phú cổ bàn về Kình Dương (còn gọi Dương Nhận) khi đóng ở bốn ô Tý, Ngọ, Mão, Dậu đều nói giọng nặng, và đó là chỗ nhiều người tuổi Canh Tý giật mình, vì mọi lá số tuổi này đều có Kình Dương ở Dậu. Nhưng cùng ô Dậu ấy lại có Đào Hoa, Thiên Hỷ và Phúc Đức, và câu phú vốn đòi thêm nhiều điều kiện về cung Mệnh. Bộ khung theo năm của nam Canh Tý (1960, 2020): Lộc Tồn ở Thân, Kình Dương ở Dậu, Đà La ở Mùi, Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi, Thiên Mã ở Dần, Tuần ở Thìn – Tỵ, Triệt ở Ngọ – Mùi.

Canh là dương can, nam Canh Tý là dương nam, đại vận đi thuận. Nạp âm Bích Thượng Thổ, đất trên vách. Hai năm sinh gần nhất cách nhau sáu mươi năm, nên người đọc bài này có thể là một ông đã nghỉ hưu, hoặc cha mẹ của một cậu bé sáu tuổi. Bài viết cho cả hai, với lời nhắc rằng lá số trẻ nhỏ càng không nên đọc thành lời phán.

Câu phú về Kình Dương ở Dậu và điều kiện bị bỏ quên

Kình Dương luôn đứng ngay sau Lộc Tồn một ô. Can Canh đặt Lộc Tồn ở Thân nên Kình rơi vào Dậu, một trong bốn ô Tý Ngọ Mão Dậu mà bảng miếu hãm thông dụng xếp Kình vào thế hãm. Những lời phú cho rằng Kình ở Mão Dậu chủ nhiều hiểm trở được trích rất nhiều trong sách phổ thông, nhưng thường bị cắt khỏi văn cảnh: các phú văn bàn Kình Dương đều nói trường hợp Kình thủ Mệnh, tức là Kình đóng ngay cung Mệnh, và còn xét chính tinh đi kèm.

Nếu ô Dậu của bạn là cung Huynh Đệ hay Nô Bộc, câu phú ấy không áp vào Mệnh. Kể cả khi Dậu là Mệnh, sách còn bàn đến việc có Tử Vi, Thiên Phủ hay Hoá Lộc đi cùng thì "chế" được Kình, nên không có lời kết luận một chiều. Đọc hôm nay, Kình Dương có thể hiểu là sức cạnh tranh, tính quyết, đôi khi là sự sắc cạnh trong lời nói; hãm địa nghĩa là năng lượng ấy dễ thành va chạm nếu không được điều tiết.

Điểm thú vị là cùng ở Dậu còn có Đào Hoa của nhóm Thân Tý Thìn, Thiên Hỷ đối diện Hồng Loan ở Mão, Lực Sĩ của vòng Bác Sĩ và Phúc Đức của vòng Thái Tuế. Một ô có cả sát tinh lẫn sao vui; sách xưa hay diễn kiểu gặp gỡ này thành chuyện duyên đến kèm sóng gió, nhưng đó cũng chỉ là lối kể để mô tả một tổ hợp, cần cung và chính tinh mới có nội dung.

Bộ khung sao theo năm của nam Canh Tý, kèm vòng Bác Sĩ

Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn và đi thuận vì là dương nam, nên khác hẳn với nữ Canh Tý (dương nữ đi nghịch). Bảng ghép sao theo can, theo chi và vòng Bác Sĩ vào từng ô:

ÔSao theo can và chiVòng Bác Sĩ
ThânLộc Tồn, Bạch HổBác Sĩ
DậuKình Dương, Đào Hoa, Thiên Hỷ, Phúc ĐứcLực Sĩ
TuấtPhượng Các, Quả Tú, Điếu KháchThanh Long
HợiTrực PhùTiểu Hao
TýThái TuếTướng Quân
SửuThiên Khôi, Thiếu DươngTấu Thư
DầnThiên Mã, Cô Thần, Tang MônPhi Liêm
MãoHồng Loan, Thiếu ÂmHỷ Thần
ThìnLong Trì, Hoa Cái, Quan Phù — trong TuầnBệnh Phù
TỵTử Phù — trong TuầnĐại Hao
NgọThiên Khốc, Thiên Hư, Tuế Phá — trong TriệtPhục Binh
MùiĐà La, Thiên Việt, Long Đức — trong TriệtQuan Phủ

Lưu ý ô Dậu: vòng Bác Sĩ đặt Lực Sĩ ở đây, còn Tướng Quân của nam Canh Tý rơi vào Tý, đúng ô Thái Tuế; nữ Canh Tý đi nghịch thì Lực Sĩ lại sang Mùi. Ai lập lá số bằng tay nên đếm lại vòng này hai lần, vì đi nhầm chiều là lệch cả mười hai ô.

Thiên Khôi và Thiên Việt theo bản phổ biến là Sửu – Mùi. Một số sách chép can Canh có Khôi Việt ở Ngọ – Dần (đổi chỗ với can Tân hoặc theo bản khác). Nếu lá số in của bạn ghi khác bảng trên, hãy xem người lập theo bản nào trước khi nghĩ là sai.

Đà La và Thiên Việt cùng trong Triệt ở Mùi

Triệt của hai can Ất và Canh đóng ở Ngọ – Mùi. Ô Mùi của nam Canh Tý gom Đà La (đắc địa, vì Mùi thuộc Thìn Tuất Sửu Mùi), Thiên Việt và Long Đức, cả ba đều chịu Triệt. Ô Ngọ bên cạnh có Thiên Khốc, Thiên Hư và Tuế Phá cũng trong Triệt.

Nhìn tổng thể, Triệt ở đây khá "có lợi" theo cách đọc của sách: nó chặn hai sao buồn là Khốc Hư, chặn Tuế Phá, chặn sự lôi thôi của Đà La. Cái giá là Thiên Việt cũng bị chặn, nên trong cặp quý nhân chỉ còn Thiên Khôi ở Sửu đứng thoáng. Người lập lá số thường dặn xem ô Sửu là cung gì, vì đó là quý nhân "sạch" duy nhất.

Tuần của Canh Tý (tuần Giáp Ngọ, thiếu Thìn và Tỵ) đóng ở Thìn – Tỵ, trùm lên Hoa Cái, Long Trì, Quan Phù. Như vậy nửa phía Thìn – Mùi của lá số là một dải không vong liền bốn ô, từ Thìn tới Mùi. Đây là một nét hiếm và dễ thấy; một số người xem cho rằng lá số có dải không vong dài thì những cung rơi vào đó "nhẹ" hơn bình thường, cả tốt lẫn xấu.

Để thấy dải này tác động thế nào, hãy lấy một lá số giả định có Mệnh ở Dần. Đếm các cung ngược chiều từ Mệnh ở Dần thì Sửu là Huynh Đệ, Tý là Phu Thê, cứ thế vòng tới Mão là Phụ Mẫu; bốn ô Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi lần lượt là Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc và Nô Bộc. Bốn cung ấy đều chịu Tuần hoặc Triệt, trong đó có cả Quan Lộc. Người xem theo lối cũ sẽ nói những cung đó "khó nắm", phải tự mở; người đọc hôm nay chỉ cần ghi nhận để khi đọc các cung ấy thì bớt tin vào những sao đứng trong đó, cả sao lành lẫn sao dữ.

Tứ hoá can Canh: đọc với ghi chú dị bản

Can Canh là can có nhiều dị bản tứ hoá nhất. Bản thông dụng ở Việt Nam: Thái Dương hoá Lộc, Vũ Khúc hoá Quyền, Thái Âm hoá Khoa, Thiên Đồng hoá Kỵ. Một số sách chép Thiên Phủ hoá Khoa thay Thái Âm; một số khác cho Thái Âm hoá Kỵ, Thiên Đồng hoá Khoa, hoặc Thiên Tướng hoá Kỵ. Mỗi phái có lý lẽ riêng và chưa có bản nào được chấp nhận tuyệt đối.

Hệ quả thực tế: hai lá số nam Canh Tý cùng giờ sinh, lập theo hai bản, có thể có Hoá Kỵ ở hai cung khác nhau. Vì thế khi đọc bất kỳ lời luận nào dựa trên Hoá Kỵ của tuổi Canh, nên hỏi lại người viết đang dùng bản nào. Đó là thái độ đúng với một hệ biểu tượng mà chính những người làm nghề cũng chưa thống nhất.

Theo bản thông dụng, Thái Dương hoá Lộc nghiêng về cái lộc đến từ việc tỏ mình, làm việc ngoài sáng; Vũ Khúc hoá Quyền là quyền trong chuyện tiền bạc, quản lý; Thiên Đồng hoá Kỵ là sự bận lòng trong những việc vốn tưởng nhẹ nhàng, như hưởng thụ, nghỉ ngơi. Mỗi cách diễn đạt chỉ là gợi ý để người đọc tự đối chiếu.

Lộc Tồn ở Thân gặp Bạch Hổ, Thiên Mã ở Dần gặp Cô Thần và Tang Môn

Ô Thân của nam Canh Tý gom Lộc Tồn, Bác Sĩ và Bạch Hổ. Ô đối diện là Dần, nơi có Thiên Mã, Cô Thần, Tang Môn và Phi Liêm. Lộc ở Thân, Mã ở Dần nhìn nhau qua trục xung chiếu, nên một số người xem vẫn gọi đây là thế Lộc Mã "giao trì" theo nghĩa rộng; sách chặt chẽ hơn chỉ dùng tên ấy khi Lộc và Mã cùng hội vào cung Mệnh hoặc Tài Bạch, nên chưa nên gán nó cho cả tuổi.

Bạch Hổ đứng cùng Lộc Tồn là chi tiết sách phổ thông hay bàn: Bạch Hổ là sao của sự mạnh mẽ, đôi khi của va chạm; đi cùng sao giữ của thì được diễn là người dám tranh để giữ phần mình. Tang Môn và Cô Thần đứng cạnh Thiên Mã thì được diễn là những chuyến đi mang tâm trạng. Cả hai cách kể đều đẹp như văn, nhưng vẫn chỉ là kể.

Thực tế dễ kiểm hơn: thử xem trên lá số của mình, ô Thân và ô Dần là cung gì. Nếu chúng là Tài Bạch và Phúc Đức chẳng hạn, trục Lộc – Mã nằm trên đường nối giữa chuyện tiền và chuyện tinh thần, gợi một câu tự hỏi về cân bằng giữa làm ra và tận hưởng. Nếu chúng là Tử Tức và Điền Trạch, chủ đề lại khác hẳn.

Mệnh Bích Thượng Thổ và năm loại cục của can Canh

Ngũ hổ độn của can Canh khởi Mậu Dần. Từ đó, cục của nam Canh Tý theo chi cung Mệnh là:

Cung Mệnh ởCụcTuổi khởi đại vậnQuan hệ với mệnh Thổ
Thân, DậuThuỷ nhị cục2mệnh khắc cục
Ngọ, MùiMộc tam cục3cục khắc mệnh
Thìn, TỵKim tứ cục4mệnh sinh cục
Dần, Mão, Tuất, HợiThổ ngũ cục5đồng hành
Tý, SửuHoả lục cục6cục sinh mệnh

Nam Canh Tý có Mệnh ở Tý, đúng ô chi năm cũng là ô Thái Tuế và Tướng Quân, sẽ là Hoả lục cục sinh mệnh Thổ, khởi vận lúc sáu tuổi. Mệnh ở Ngọ hoặc Mùi thì rơi vào Triệt, lại gặp Mộc tam cục khắc mệnh; sách cổ đọc trường hợp này nặng nhất, nhưng cũng chính các sách ấy nói Mệnh gặp Triệt thì khó khăn đến sớm và qua sớm. Mỗi lớp như vậy chỉ là một sợi trong tấm vải, đừng kéo một sợi ra rồi kết luận cả tấm.

Cho người sinh năm 1960 và cha mẹ của bé sinh năm 2020

Với các ông sinh năm 1960, nay ngoài sáu mươi lăm, đại vận dương nam đi thuận đã qua Quan Lộc và Nô Bộc, nay phần lớn đang ở vận thứ bảy tại Thiên Di, người cục nhỏ sắp sang Tật Ách. Lá số lúc này đáng đọc như một tấm bản đồ để nhìn lại: những chủ đề cung nào đã thật sự nổi bật trong đời mình, chỗ nào lời sách khớp, chỗ nào không. Đây cũng là cách thú vị để thấy hệ biểu tượng này mô tả được gì và bỏ sót gì.

Cung Tật Ách trong vận lúc tuổi cao không nên đọc thành lời đoán bệnh. Khám sức khoẻ định kỳ và lời khuyên của thầy thuốc là thứ duy nhất đáng tin cho chuyện đó.

Với cha mẹ đang cầm lá số của bé trai sinh năm 2020: đại vận đầu đi từ cung Mệnh lúc bé hai đến sáu tuổi tuỳ cục, vận thứ hai ở Phụ Mẫu. Sách xưa đọc vận Phụ Mẫu ở tuổi nhỏ là giai đoạn ảnh hưởng của cha mẹ rõ nhất, một nhận xét ai cũng thấy đúng mà không cần lá số. Không nên dựa vào Kình Dương hay Hoá Kỵ trên lá số để gán tính cách cho trẻ, vì trẻ rất dễ lớn lên theo nhãn người lớn dán cho mình.

Lá số, cho dù của ông hay của cháu, cũng chỉ là một cách người xưa kể chuyện về con người bằng ký hiệu sao và cung. Nó không thay được việc quan sát, trò chuyện và chăm sóc người thật trước mặt. Muốn tra tuổi Canh Tý theo màu, hướng, con số dân gian, có thể xem thêm tuviphongthuy.com.

Câu hỏi thường gặp

Nam Canh Tý có Lộc Tồn và Kình Dương ở đâu?

Lộc Tồn của can Canh ở Thân, Kình Dương ở Dậu, Đà La ở Mùi. Vị trí này giống nhau trên mọi lá số tuổi Canh, không phụ thuộc giờ sinh hay giới tính, chỉ chiều vòng Bác Sĩ là đổi theo giới.

Câu phú Kình Dương ở Mão Dậu có áp cho mọi người tuổi Canh Tý không?

Không. Phú văn bàn trường hợp Kình Dương đóng ngay cung Mệnh và còn xét chính tinh đi kèm. Nếu ô Dậu là cung khác trên lá số của bạn, câu phú ấy không nói về Mệnh, và kể cả khi đúng là Mệnh thì vẫn cần xem các sao chế giải.

Thiên Khôi, Thiên Việt của can Canh ở đâu?

Bản phổ biến đặt Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi cho can Canh, giống can Giáp và Mậu. Một số sách chép Ngọ – Dần. Khi lá số in ghi khác, nên xem người lập theo bản nào trước khi kết luận là sai.

Tứ hoá can Canh khác nhau giữa các sách thế nào?

Bản thông dụng là Thái Dương hoá Lộc, Vũ Khúc hoá Quyền, Thái Âm hoá Khoa, Thiên Đồng hoá Kỵ. Các dị bản đổi chỗ Hoá Khoa sang Thiên Phủ, hoặc đổi Hoá Kỵ sang Thái Âm hay Thiên Tướng. Lời luận dựa trên Hoá Kỵ tuổi Canh luôn cần ghi rõ bản.

Có nên lập lá số cho bé trai sinh năm 2020 để biết tính cách không?

Có thể lập để giữ như một kỷ vật văn hoá, nhưng không nên dùng để gán tính cách hay định hướng cho trẻ. Trẻ nhỏ thay đổi nhanh và dễ lớn lên theo nhãn người lớn đặt; quan sát và trò chuyện với con vẫn đáng tin hơn.

Dải không vong từ Thìn tới Mùi của tuổi Canh Tý nghĩa là gì?

Tuần ở Thìn – Tỵ và Triệt ở Ngọ – Mùi tạo thành bốn ô liền nhau trong vùng không vong. Theo cách đọc của nhiều sách, sao đứng trong vùng này đều giảm lực, cả sao tốt lẫn sao xấu; mức ảnh hưởng còn tuỳ các ô đó là cung gì trên lá số.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.