ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Lá số tuổi Nhâm Tuất nam mạng: Đà La đứng ô Thái Tuế, Kình Dương trong Tuần

Nam Nhâm Tuất (1982, 2042) là dương nam, vận đi thuận; Đà La ở Tuất cùng Thái Tuế, Kình Dương ở Tý trong Tuần, Lộc Tồn ở Hợi bên Cô Thần.

A Vietnamese man in his forties seen from behind on a small fishing boat at dawn, coiled ropes at his feet, calm open sea and indigo sky turning gold

Một người nam sinh năm 1982 cầm tờ lá số in sẵn thường dừng lại ở ô Tuất: ngay chỗ chi năm của mình lại ghi Đà La, Thái Tuế, Hoa Cái và Quan Phủ chen nhau. Đó không phải chuyện riêng lá số ấy. Mọi người nam tuổi Nhâm Tuất (1922, 1982, 2042) đều có đúng bộ khung đó, vì các sao này an theo năm: Lộc Tồn ở Hợi, Kình Dương ở Tý (nằm trong Tuần), Đà La ở Tuất, Thiên Khôi ở Mão (trong Triệt), Thiên Việt ở Tỵ, Thiên Mã ở Thân.

Nhâm thuộc dương can, người nam nên là dương nam, đại vận đi thuận. Nạp âm của cặp Nhâm Tuất – Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ, nước biển lớn. Phần dưới đi từng ô cố định, nói sách xưa đọc chúng ra sao và người đọc hôm nay nên đặt chúng ở mức nào, rồi tách bạch phần nào bắt buộc phải có giờ sinh.

Mười hai ô của nam Nhâm Tuất, xếp theo những sao an theo năm

Bảng sau gom các sao theo can, theo chi và hai vòng mười hai sao (vòng Bác Sĩ đi thuận vì là dương nam, vòng Thái Tuế luôn đi thuận) vào từng ô. Ô nào cũng giống nhau trên mọi lá số nam Nhâm Tuất; chỉ tên cung (Mệnh, Tài, Quan…) đặt lên ô nào là tuỳ tháng và giờ sinh.

ÔSao an theo năm đứng ở đó
TýKình Dương, Lực Sĩ, Phượng Các, Tang Môn — trong Tuần
SửuThanh Long, Thiếu Âm — trong Tuần
DầnTiểu Hao, Long Trì, Quan Phù — trong Triệt
MãoThiên Khôi, Đào Hoa, Tướng Quân, Tử Phù — trong Triệt
ThìnTấu Thư, Thiên Hư, Tuế Phá
TỵThiên Việt, Hồng Loan, Phi Liêm, Long Đức
NgọHỷ Thần, Bạch Hổ
MùiBệnh Phù, Quả Tú, Phúc Đức
ThânThiên Mã, Thiên Khốc, Đại Hao, Điếu Khách
DậuPhục Binh, Trực Phù
TuấtĐà La, Thái Tuế, Hoa Cái, Quan Phủ
HợiLộc Tồn, Bác Sĩ, Thiên Hỷ, Cô Thần, Thiếu Dương

Cách đọc bảng này cho đúng là đọc theo hàng ngang chứ không đọc từng tên. Ô Tý có Kình Dương nhưng nằm trong Tuần; ô Mão có quý nhân Thiên Khôi nhưng gặp Triệt; ô Hợi gom Lộc Tồn với Thiên Hỷ lẫn Cô Thần. Mỗi ô là một tổ hợp, và chỉ khi biết ô ấy là cung gì của lá số thì tổ hợp mới có chủ đề để bàn.

Mệnh chủ phụ thuộc chi cung Mệnh (Tý Tham Lang, Sửu và Hợi Cự Môn, Dần và Tuất Lộc Tồn, Mão và Dậu Văn Khúc, Thìn và Thân Liêm Trinh, Tỵ và Mùi Vũ Khúc, Ngọ Phá Quân); thân chủ theo chi năm Tuất là Văn Xương. Một số lá số in ở Việt Nam lại ghi mệnh chủ theo chi năm, khi đó ô này ghi Lộc Tồn.

Đà La đứng ngay ô Thái Tuế: vì sao tuổi Tuất nào cũng gặp

Đà La luôn đứng lùi một ô sau Lộc Tồn. Can Nhâm đặt Lộc Tồn ở Hợi, nên Đà La rơi vào Tuất, đúng ô chi năm, nơi vòng Thái Tuế khởi đầu. Hoa Cái của nhóm Dần Ngọ Tuất cũng an ở Tuất, và vòng Bác Sĩ đi thuận từ Hợi thì sao cuối vòng là Quan Phủ cũng dừng ở Tuất. Bốn cái tên vì thế dồn vào một ô do thuần tuý số học, không có ý "định mệnh" nào trong việc xếp đặt.

Sách xưa coi Đà La là sao kéo dài, làm chậm, ví như sợi dây quấn; đứng ở Tuất thì Đà La thuộc vị trí đắc địa (bốn ô Thìn Tuất Sửu Mùi). Các phái đọc Đà La đắc địa là sự bền bỉ, chịu được việc dai dẳng mà người khác bỏ ngang. Thái Tuế đi cùng được hiểu là tính hay nói thẳng, giữ lập trường; Hoa Cái là vẻ trầm, thích cái riêng; Quan Phủ gắn với giấy tờ, lý lẽ. Ghép lại, người xưa vẽ ra hình ảnh một người chậm mà chắc, có chính kiến và hơi khó gần lúc đầu.

Người đọc hôm nay nên nhớ rằng đó là hình ảnh của cả một thế hệ sinh cùng năm, không phải của riêng ai. Ô Tuất chỉ thật sự có trọng lượng khi trên lá số của bạn nó trùng với cung Mệnh, cung Thân hoặc một cung trong tam phương của Mệnh. Nếu ô Tuất là cung Nô Bộc chẳng hạn, bộ bốn sao kia chỉ là màu nền của một cung phụ, không nên kéo về để nói tính cách mình.

Cũng không nên đọc Đà La ở chi năm thành lời doạ "năm nào cũng vướng". Sao an theo năm đứng yên suốt đời; thứ thay đổi theo năm là các sao lưu, và việc luận năm cụ thể nằm ngoài phạm vi bài này.

Kình Dương ở Tý gặp Tuần, Thiên Khôi ở Mão gặp Triệt

Nhâm Tuất thuộc tuần Giáp Dần, tuần ấy thiếu hai chi Tý và Sửu nên Tuần án ngữ hai ô này. Triệt của can Nhâm an ở Dần và Mão. Kết quả là hai ô đầu năm của lá số, từ Tý tới Mão, đều nằm trong vùng không vong: bên Tuần có Kình Dương, bên Triệt có Thiên Khôi và Đào Hoa.

Kình Dương ở Tý thuộc thế hãm theo bảng miếu hãm thông dụng (Kình đắc ở Thìn Tuất Sửu Mùi, hãm ở Tý Ngọ Mão Dậu). Sách xưa đọc Kình hãm là nóng vội, dễ va chạm; nhưng cũng chính các sách ấy nói sát tinh gặp Tuần hay Triệt thì giảm lực, như lưỡi dao được bọc vải. Vì vậy nhiều người cầm lá số tuổi này thấy Kình ở Tý mà lo, trong khi lời sách thực ra nghiêng về phía nhẹ đi.

Ngược lại, Thiên Khôi là quý nhân, vào Triệt thì sách lại tiếc: quý nhân bị chặn, sự giúp đỡ đến muộn hoặc phải tự tìm. Đào Hoa đứng cùng ô cũng bị giảm vẻ hào nhoáng. Có phái còn phân biệt: Triệt nặng ở nửa đầu đời, Tuần nặng ở nửa sau, nên vị trí trong Triệt "mở" dần theo tuổi. Đây là quan niệm riêng của một số sách, không phải nguyên tắc chung.

Thiên Việt, quý nhân còn lại, đứng tự do ở Tỵ cùng Hồng Loan và Long Đức. Người đọc lá số tuổi này thường được khuyên nhìn ô Tỵ là cung gì, vì đó là quý nhân duy nhất không gặp không vong.

Mệnh Đại Hải Thuỷ đặt cạnh năm loại cục của can Nhâm

Cục do can năm và chi của cung Mệnh quyết định, nên cùng là nam Nhâm Tuất mà cục có thể khác nhau tuỳ cung Mệnh đóng ở đâu. Với can Nhâm, ngũ hổ độn khởi Nhâm Dần, cho ra năm khả năng:

Cung Mệnh ởCụcTuổi khởi đại vậnQuan hệ với mệnh Thuỷ
Ngọ, MùiThuỷ nhị cục2đồng hành
Tý, SửuMộc tam cục3mệnh sinh cục
Dần, Mão, Tuất, HợiKim tứ cục4cục sinh mệnh
Thân, DậuThổ ngũ cục5cục khắc mệnh
Thìn, TỵHoả lục cục6mệnh khắc cục

Sách xưa xếp cục sinh mệnh là thuận nhất và cục khắc mệnh là phải gắng sức nhiều. Với nam Nhâm Tuất, bốn ô Dần, Mão, Tuất, Hợi đều cho Kim tứ cục sinh Thuỷ, nên tỷ lệ lá số rơi vào thế "được sinh" khá cao. Tuy vậy quan hệ mệnh cục chỉ là một lớp phụ; mục Mệnh, cục, âm dương của trang có bài riêng cho từng quan hệ.

Ví dụ giả định: lá số A có Mệnh ở Hợi, Kim tứ cục, đại vận đầu từ 4 đến 13 tuổi tại Mệnh, rồi 14–23 ở Phụ Mẫu, 24–33 ở Phúc Đức, 34–43 ở Điền Trạch, 44–53 ở Quan Lộc. Lá số B có Mệnh ở Thìn, Hoả lục cục, các mốc lùi hai năm: vận Quan Lộc từ 46 đến 55. Cùng năm sinh mà nhịp vận đã lệch nhau như vậy.

Tứ hoá can Nhâm và hai cách chép Hoá Khoa

Can Nhâm cho Thiên Lương hoá Lộc, Tử Vi hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Kỵ; riêng Hoá Khoa thì các nguồn tách đôi. Nhiều sách Trung Hoa theo Toàn thư chép Tả Phụ hoá Khoa, còn phần lớn lá số in ở Việt Nam ghi Thiên Phủ hoá Khoa. Khi so hai lá số của cùng một người lập ở hai nơi mà thấy Hoá Khoa nằm khác ô, nguyên nhân thường là chỗ này chứ không phải lỗi giờ sinh.

Thiên Lương hoá Lộc được sách đọc là cái lộc đến từ sự che chở, từ việc chăm lo người khác; Tử Vi hoá Quyền là quyền điều hành; Vũ Khúc hoá Kỵ rơi vào sao tài chính nên các sách phổ thông hay viết thành "tiền bạc trắc trở". Đọc tỉnh táo thì Hoá Kỵ ở Vũ Khúc chỉ báo rằng chuyện tiền là chủ đề người này hay bận tâm, hay cân nhắc kỹ, chứ không nói thiếu hay đủ. Nó đứng ở cung nào thì chủ đề ấy được nhấn.

Bốn sao hoá này là chính tinh và phụ tinh an theo tháng, giờ, nên vị trí của chúng trên lá số mỗi người một khác. Đây là chỗ mà mọi bài viết theo năm sinh phải dừng lại: biết sao nào hoá, nhưng chưa biết hoá ở cung nào.

Thiên Mã ở Thân gặp Thiên Khốc, Lộc Tồn ở Hợi đứng giữa Thiên Hỷ và Cô Thần

Thiên Mã an theo chi năm: nhóm Dần Ngọ Tuất đặt Mã ở Thân. Ô Thân của nam Nhâm Tuất còn có Thiên Khốc, Đại Hao của vòng Bác Sĩ và Điếu Khách của vòng Thái Tuế. Sách xưa thích hình ảnh "ngựa gặp tiếng khóc" để nói chuyện đi xa mang nỗi nhớ, hay đổi chỗ vì việc chẳng đặng đừng. Lối nói ấy là văn chương; về mặt cấu trúc, đây chỉ là bốn sao an theo bốn quy tắc khác nhau tình cờ trùng một ô.

Một điểm kỹ thuật đáng nhớ: Lộc Tồn ở Hợi và Thiên Mã ở Thân không cùng ô, cũng không xung chiếu nhau, nên tuổi Nhâm Tuất không có thế Lộc Mã gặp nhau như các tuổi Canh Tuất hay Giáp Tý. Ai đọc thấy lời "Lộc Mã giao trì" gán cho mọi người tuổi này thì nên kiểm lại.

Ô Hợi là nơi Lộc Tồn đứng cùng Bác Sĩ, Thiên Hỷ, Cô Thần và Thiếu Dương. Lộc Tồn được sách coi là sao giữ của, tính hơi khép kín; Cô Thần nhấn thêm vẻ một mình; Thiên Hỷ và Bác Sĩ thì kéo về phía vui, có học. Nếu ô Hợi rơi đúng cung Mệnh, người xem thường tả một người kín đáo, tự lo liệu, ít nhờ vả nhưng vẫn giữ được niềm vui riêng. Đó là một bức chân dung tham khảo, để đối chiếu với chính mình chứ không phải để tin theo.

Lời sách phổ thông về nam Nhâm Tuất và một cách đọc lại

Những cuốn sách xem tuổi nhỏ bán dịp đầu năm thường tả nam Nhâm Tuất bằng mấy nét quen: tính thẳng, giữ chữ tín, tuổi trẻ bôn ba, trung niên mới yên; có bản thêm câu "vợ con muộn màng" hay "anh em ít nhờ". Những nét này phần lớn suy từ hình ảnh nạp âm nước biển (rộng, khó đong đếm) và từ chi Tuất (con chó giữ nhà, trung thành), không phải từ lá số đầy đủ.

Người đọc hôm nay có thể giữ lại phần mô tả tính cách như một gợi ý để tự soi, và bỏ hẳn phần nói về vợ con hay anh em. Chuyện gia đình của một người trên lá số chỉ được xem ở cung Phu Thê, Tử Tức, Huynh Đệ cùng các sao chiếu, mà những cung ấy đặt ở đâu thì năm sinh không cho biết. Áp một câu chung cho mọi đàn ông sinh năm 1982 là việc sách nhỏ làm vì khổ giấy chỉ có thế.

Lá số, suy cho cùng, là một bộ ký hiệu người xưa dùng để kể chuyện về con người. Nó gợi ý để bạn tự hỏi, chứ không thay bạn quyết chuyện nghề, chuyện nhà hay chuyện tiền. Muốn tra năm sinh hợp màu gì, hướng nào theo cách dân gian, có thể xem thêm tuviphongthuy.com; ở đây chỉ bàn phần lá số.

Câu hỏi thường gặp

Nam Nhâm Tuất đại vận đi thuận hay nghịch?

Đi thuận. Nhâm là dương can, giới nam, nên thuộc dương nam; đại vận đi từ cung Mệnh sang Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch rồi Quan Lộc. Nữ Nhâm Tuất là dương nữ nên đi nghịch, thứ tự cung ngược lại hoàn toàn.

Đà La đứng ở ô chi năm Tuất có đáng lo không?

Không cần lo. Đà La ở Tuất là do Lộc Tồn của can Nhâm ở Hợi, và ở Tuất Đà La còn được coi là đắc địa. Ô này chỉ có trọng lượng khi trùng cung Mệnh, Thân hoặc tam phương của Mệnh trên lá số cụ thể.

Kình Dương nằm trong Tuần thì sách đọc thế nào?

Phần lớn các sách cho rằng sát tinh gặp Tuần hoặc Triệt thì giảm sức, nên Kình Dương hãm ở Tý mà gặp Tuần được đọc nhẹ đi đáng kể. Một số phái nói Tuần nặng về nửa sau cuộc đời, nhưng đó là quan niệm riêng chứ không phải quy tắc chung.

Hoá Khoa của can Nhâm là Tả Phụ hay Thiên Phủ?

Hai cách chép cùng tồn tại. Nhiều sách Trung Hoa ghi Tả Phụ hoá Khoa, còn đa số lá số in ở Việt Nam ghi Thiên Phủ hoá Khoa. Khi so hai lá số của cùng một người thấy lệch ô Hoá Khoa thì nên kiểm chỗ này trước.

Năm sinh 1982 đã đủ để biết cung Mệnh nam Nhâm Tuất ở đâu chưa?

Chưa đủ. Cung Mệnh an theo tháng và giờ sinh âm lịch, vì vậy mười bốn chính tinh, tứ hoá rơi vào cung nào, cục là gì đều cần giờ sinh. Năm sinh chỉ cho bộ khung các sao an theo can và chi năm như trong bảng.

Câu "trung niên mới yên" trong sách có áp cho mọi người tuổi này không?

Không nên áp chung. Đó là lời khái quát trong sách nhỏ, suy từ hình ảnh nạp âm và con giáp. Đại vận trung niên của mỗi người đi qua cung nào còn tuỳ cung Mệnh và cục, nên hai người cùng tuổi có thể khác nhau rất xa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.