ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Tuổi Ất Mão nam mạng trên lá số: Lộc Tồn đóng ô Thái Tuế, Long Phượng gặp Triệt

Nam Ất Mão (1915, 1975) là âm nam, vận nghịch; Lộc Tồn ở Mão trùng Thái Tuế và Thiên Khốc, Kình Dương đắc ở Thìn, Long Trì Phượng Các cùng ô Mùi trong Triệt.

Overhead view of a man's weathered hands sorting dried tea leaves on a round bamboo tray on a wooden floor, soft window light, deep indigo cloth nearby

Trong sáu mươi hoa giáp chỉ bốn tuổi có Lộc Tồn đóng đúng ô chi năm: Giáp Dần, Ất Mão, Canh Thân và Tân Dậu. Với nam Ất Mão (1915, 1975, 2035), ô Mão vừa có Lộc Tồn, vừa có Thái Tuế, Thiên Khốc và Bác Sĩ. Kình Dương ở Thìn (đắc địa), Đà La ở Dần, Thiên Khôi ở Tý trong Tuần, Thiên Việt ở Thân, Thiên Mã ở Tỵ cùng Cô Thần; Long Trì và Phượng Các cùng ô Mùi, nằm trong Triệt.

Ất là âm can, nên nam Ất Mão là âm nam, đại vận đi nghịch. Nạp âm Đại Khê Thuỷ, nước khe lớn. Người sinh năm 1975 năm nay ngoài năm mươi. Bài này đọc ô chi năm đặc biệt ấy, cặp Long Phượng đồng cung, ô Tý có ba sao "đẹp" trong Tuần, rồi tới tứ hoá can Ất và nhịp vận.

Lộc Tồn ở ngay ô chi năm cùng Thái Tuế và Thiên Khốc

Lộc Tồn chỉ đóng ở tám ô Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý. Lộc theo can, Thái Tuế theo chi; hai thứ trùng ô khi can và chi "khớp": Giáp đặt Lộc ở Dần, Ất ở Mão, Canh ở Thân, Tân ở Dậu. Các can còn lại không có cơ hội này: Lộc của Nhâm ở Hợi nhưng không có năm Nhâm Hợi (can dương chỉ đi với chi dương), Lộc của Quý ở Tý nhưng không có năm Quý Tý, tương tự với Bính, Đinh, Mậu, Kỷ. Nên chỉ bốn tuổi có Lộc Tồn đứng ngay ô Thái Tuế.

Sách xưa đọc Lộc gặp Thái Tuế là "lộc của chính mình", của đến từ việc mình làm, mình giữ lập trường. Nam Ất Mão có thêm Thiên Khốc ở Mão (tuổi Mão đặt Khốc ở Mão) và Bác Sĩ đầu vòng. Khốc là sao của nỗi buồn, cũng là sao của sự nhạy cảm, của tiếng nói; có sách đọc Lộc gặp Khốc là "của làm ra bằng mồ hôi và nước mắt", lối nói văn chương để chỉ sự vất vả.

Đọc hôm nay: ô Mão là ô quan trọng của mọi lá số nam Ất Mão vì nó là chi năm, nhưng nó chỉ thành "Mệnh" khi cung Mệnh thật sự đóng ở Mão. Nếu Mệnh ở chỗ khác, ô Mão vẫn là nơi sách gọi là "gốc năm", được tham khảo khi luận chung, không thay thế được cung Mệnh.

Bộ khung sao theo năm của nam Ất Mão

Vòng Bác Sĩ đi nghịch từ Lộc Tồn ở Mão; vòng Thái Tuế đi thuận từ Mão. Vì Lộc Tồn và chi năm trùng ô, hai vòng khởi cùng một chỗ rồi tách hai chiều:

ÔSao an theo nămGhi chú
MãoLộc Tồn, Thái Tuế, Thiên Khốc, Bác Sĩô chi năm
ThìnKình Dương, Thiếu Dương, Quan PhủKình đắc
DầnĐà La, Trực Phù, Lực Sĩ
TýThiên Khôi, Hồng Loan, Đào Hoa, Phúc Đức, Tiểu Haotrong Tuần
SửuQuả Tú, Điếu Khách, Thanh Longtrong Tuần
ThânThiên Việt, Tử Phù, Hỷ Thần
TỵThiên Mã, Cô Thần, Tang Môn, Phục Binh
NgọThiên Hỷ, Thiếu Âm, Đại Haotrong Triệt
MùiLong Trì, Phượng Các, Hoa Cái, Quan Phù, Bệnh Phùtrong Triệt
DậuThiên Hư, Tuế Phá, Phi Liêm
TuấtLong Đức, Tấu Thư
HợiBạch Hổ, Tướng Quân

Ất Mão thuộc tuần Giáp Dần nên Tuần ở Tý – Sửu; Triệt của can Ất ở Ngọ – Mùi. Mệnh chủ tuỳ chi cung Mệnh; thân chủ theo chi năm Mão là Thiên Đồng.

Long Trì và Phượng Các cùng ô Mùi, cùng Hoa Cái, trong Triệt

Long Trì an từ Thìn đếm thuận theo chi năm, Phượng Các an từ Tuất đếm nghịch. Hai sao chỉ gặp nhau ở hai tuổi: tuổi Mão (cùng ở Mùi) và tuổi Dậu (cùng ở Sửu). Nam Ất Mão vì thế có Long Phượng đồng cung ở Mùi, cùng Hoa Cái của nhóm Hợi Mão Mùi, Quan Phù của vòng Thái Tuế và Bệnh Phù của vòng Bác Sĩ.

Sách xưa rất thích tổ hợp này: rồng và phượng là hình ảnh của vẻ đẹp, của khoa bảng, của nghệ thuật; Hoa Cái là chiếc lọng che, tượng cho văn chương, sự tao nhã. Một ô có cả ba thì được đọc là nơi của tài hoa, của những dịp vinh dự. Tiếc là ô Mùi của Ất Mão nằm trong Triệt, nên theo cách đọc của sách, vẻ đẹp ấy bị che bớt, đến muộn hoặc phải tự mài giũa mới lộ ra.

Một cách nhìn tỉnh hơn: Long Phượng cùng ô là chuyện của tất cả người tuổi Mão, cả nam lẫn nữ, mọi can. Nó không đánh dấu ai là "tài hoa". Nó chỉ có ý nghĩa khi ô Mùi là cung gắn với nghề nghiệp, học hành hay bản thân. Người làm nghề sáng tạo hay thích đọc ô này, nhưng cái họ làm ra vẫn là thước đo tài năng đáng tin hơn bất kỳ ngôi sao nào.

Ô Tý: Thiên Khôi, Hồng Loan và Đào Hoa trong Tuần

Tuổi Mão đặt Hồng Loan ở Tý (Hồng Loan khởi Mão ở tuổi Tý rồi lùi dần, đến tuổi Mão thì về Tý), và nhóm Hợi Mão Mùi đặt Đào Hoa cũng ở Tý. Can Ất đặt Thiên Khôi ở Tý. Thêm Phúc Đức của vòng Thái Tuế. Bốn sao đều thuộc loại lành, đều nằm trong Tuần.

Sách phổ thông đọc ô này thành chuyện "duyên đến muộn", "quý nhân xuất hiện ở tuổi trung niên", dựa trên quan niệm Tuần nặng nửa đầu và nhẹ dần về sau (có phái lại nói ngược, Tuần nặng nửa sau). Người ngoài năm mươi đọc lời ấy thường thấy khớp, nhưng nên nhớ rằng gần như ai cũng có cảm giác mình được giúp nhiều hơn khi đã trưởng thành, đơn giản vì quan hệ đã rộng ra.

Ô Tý đối xung với ô Ngọ có Thiên Hỷ trong Triệt. Vậy trục Tý – Ngọ của nam Ất Mão là trục của các sao vui, cả hai đầu đều bị che. Thiên Việt ở Thân thì đứng thoáng cùng Tử Phù và Hỷ Thần; ô Thân là chỗ quý nhân "không vướng" duy nhất của tuổi này.

Kình Dương đắc địa ở Thìn, Đà La ở Dần

Hai bên Lộc Tồn ở Mão là Kình Dương ở Thìn và Đà La ở Dần, quy tắc chung của mọi tuổi Ất. Kình ở Thìn thuộc thế đắc địa, đứng cùng Thiếu Dương của vòng Thái Tuế và Quan Phủ của vòng Bác Sĩ. Đà ở Dần không thuộc bốn ô đắc, đứng cùng Trực Phù và Lực Sĩ.

Với nam Ất Mão, bộ ba Đà – Lộc – Kình chiếm ba ô liền Dần, Mão, Thìn, ngay quanh ô chi năm. Sách xưa có lối nhìn bộ ba này như "trước có người mở đường, sau có người kéo xe": Kình đắc địa mở đường, Đà La theo sau giữ nhịp. Khi Mệnh đóng ở một trong ba ô ấy, người xem hay tả một người làm việc có kế hoạch, giữ được thành quả, đôi khi hơi cứng.

Nam Ất Mão và nam Ất Sửu, Ất Hợi cùng can nên chung bộ ba này. Khác ở chỗ ô Mão của Ất Mão là chi năm, có thêm Thái Tuế và Thiên Khốc; ô Mão của Ất Sửu có Tang Môn; ô Mão của Ất Hợi có Quan Phù. Một ô, ba tuổi, ba sắc thái, chỉ vì sao theo chi đổi.

Thiên Mã ở Tỵ đứng cùng Cô Thần và Tang Môn

Nhóm Hợi Mão Mùi đặt Thiên Mã ở Tỵ; nhóm Dần Mão Thìn đặt Cô Thần ở Tỵ; vòng Thái Tuế của tuổi Mão đặt Tang Môn ở Tỵ; vòng Bác Sĩ nghịch từ Mão đặt Phục Binh ở Tỵ. Bốn sao cùng một ô, không Tuần Triệt. Ô Tỵ đối xung với ô Hợi có Bạch Hổ và Tướng Quân.

Sách xưa diễn Mã gặp Cô Thần là người hay đi một mình, tự lo cho chuyến đi của mình; thêm Tang Môn là những chuyến đi mang tâm sự. Ở thế hệ sinh giữa thập niên bảy mươi, nhiều người đã trải qua những đợt rời quê đi làm ăn xa, nên lời sách dễ nghe "trúng". Nhưng cảm giác trúng ấy đến từ hoàn cảnh chung của cả một thế hệ, không phải từ ngôi sao trên lá số riêng.

Nếu ô Tỵ là cung Thiên Di hay Quan Lộc của bạn, đây là chất liệu để sách nói nhiều về đi lại và công việc xa nhà. Nếu ô Tỵ là cung Huynh Đệ, sách sẽ nói về anh em ở xa. Một câu tự hỏi có ích từ ô này: những chuyến đi của mình đang đem lại điều mình cần, hay đang lấy mất thời gian của những người ở nhà?

Tứ hoá can Ất trên lá số người năm mươi

Can Ất cho Thiên Cơ hoá Lộc, Thiên Lương hoá Quyền, Tử Vi hoá Khoa, Thái Âm hoá Kỵ. Ở tuổi năm mươi, nhiều người đọc bộ tứ hoá này qua lăng kính những gì đã trải: Thiên Cơ hoá Lộc gắn với nghề cần tính toán, kế hoạch; Thiên Lương hoá Quyền gắn với vai trò người đi trước, người hướng dẫn; Tử Vi hoá Khoa là uy tín được tích luỹ.

Thái Âm hoá Kỵ là chủ đề hay khiến người tuổi Ất băn khoăn, vì sách cũ gắn Thái Âm với mẹ, vợ, nhà cửa, tiền tích góp. Ở tuổi năm mươi, khi cha mẹ đã già, con cái đang lớn, đó là chủ đề tự nhiên của rất nhiều gia đình, chứ không phải điều riêng của người có Thái Âm hoá Kỵ. Đọc như một lời nhắc dành thời gian cho người thân và rà lại kế hoạch tích luỹ là đủ.

Thái Âm đóng ô nào, sáng hay tối, ở cung nào, là những điều phải có ngày giờ sinh mới biết. Thái Âm ở các ô đêm như Hợi, Tý được coi là sáng; ở các ô ngày như Mão, Thìn là tối; cùng là Hoá Kỵ mà hai trường hợp được luận rất khác.

Mệnh Đại Khê Thuỷ và năm loại cục của can Ất

Can Ất dùng ngũ hổ độn khởi Mậu Dần. Cục của nam Ất Mão theo chi cung Mệnh:

Cung Mệnh ởCụcQuan hệ với mệnh Thuỷ
Thân, DậuThuỷ nhị cụcđồng hành
Ngọ, MùiMộc tam cụcmệnh sinh cục
Thìn, TỵKim tứ cụccục sinh mệnh
Dần, Mão, Tuất, HợiThổ ngũ cụccục khắc mệnh
Tý, SửuHoả lục cụcmệnh khắc cục

Có một trường hợp đáng chú ý: Mệnh ở Mão, ô chi năm có Lộc Tồn, lại gặp Thổ ngũ cục khắc mệnh Thuỷ. Sách xưa gọi đó là "có lộc mà phải gắng". Mệnh ở Thìn, ô Kình đắc địa, thì được Kim tứ cục sinh mệnh. Mệnh ở Mùi, ô Long Phượng trong Triệt, là Mộc tam cục, mệnh sinh cục.

Người sinh năm 1975 năm nay khoảng năm mươi hai tuổi. Âm nam đi nghịch: phần lớn đang ở vận thứ năm tại Tài Bạch; người Thuỷ nhị cục vừa sang vận thứ sáu tại Tật Ách từ 52 tuổi. Vận Tật Ách trong sách là đề mục sức khoẻ; lá số không đoán bệnh, việc nên làm là khám định kỳ và nghe thầy thuốc.

Lời sách phổ thông về nam Ất Mão và một cách đọc ở tuổi năm mươi

Sách xem tuổi phổ thông tả nam Ất Mão là người hiền, khéo, "có tài mà ít gặp thời", "hậu vận an nhàn, con cháu đề huề". Ý "có tài ít gặp thời" có lẽ suy từ Long Phượng bị Triệt và quý nhân trong Tuần; ý "hậu vận an nhàn" là khuôn câu dễ chịu mà nhiều cuốn dùng cho người lớn tuổi. Vài bản có câu về "khắc vợ", "muộn con" thì nên gạt hẳn.

Ở tuổi năm mươi, cách đọc lá số có ích là nhìn lại thay vì đoán trước: những chủ đề nào thực sự nổi lên trong đời mình; ô Lộc ở chi năm có khớp với cảm giác "của do mình làm" không; vẻ tài hoa của Long Phượng có chỗ nào để nở. Lá số là một hệ ký hiệu cổ được nhiều thế hệ gọt giũa; nó đẹp ở chỗ gợi người ta ngẫm về mình, còn những quyết định của nửa đời sau vẫn cần dựa trên sức khoẻ, tài chính và những người mình thương.

Câu hỏi thường gặp

Những tuổi nào có Lộc Tồn đóng ngay ô chi năm?

Lộc Tồn trùng chi năm khi can và chi khớp nhau: Giáp Dần (Lộc ở Dần), Ất Mão (ở Mão), Canh Thân (ở Thân), Tân Dậu (ở Dậu). Các can Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý không có trường hợp này.

Long Trì và Phượng Các gặp nhau ở những tuổi nào?

Chỉ ở tuổi Mão (cùng ở Mùi) và tuổi Dậu (cùng ở Sửu), vì Long Trì đếm thuận từ Thìn còn Phượng Các đếm nghịch từ Tuất. Nam Ất Mão có cặp này ở Mùi, nằm trong Triệt của can Ất.

Kình Dương của nam Ất Mão có đắc địa không?

Có. Kình Dương của can Ất ở Thìn, thuộc bốn ô Thìn Tuất Sửu Mùi mà bảng thông dụng xếp đắc địa. Sách đọc Kình đắc địa là sự quyết đoán, dám làm việc khó.

Vì sao nhiều sao đẹp của tuổi Ất Mão bị Tuần Triệt che?

Do quy tắc an sao: Ất Mão thuộc tuần Giáp Dần nên Tuần ở Tý – Sửu, Triệt của can Ất ở Ngọ – Mùi. Thiên Khôi, Hồng Loan, Đào Hoa ở Tý và Long Phượng, Hoa Cái ở Mùi, Thiên Hỷ ở Ngọ đều nằm trong các vùng ấy.

Nam Ất Mão và nữ Ất Mão khác nhau ra sao?

Sao theo can và chi giống nhau. Khác ở chiều đại vận: nữ Ất Mão là âm nữ đi thuận. Vòng Bác Sĩ của nữ cũng đi thuận từ Mão nên Lực Sĩ, Quan Phủ và các sao khác trong vòng đổi chỗ.

Người sinh năm 1975 có nên dựa vào lá số để lo hậu vận?

Không nên. Lá số chỉ là một hệ biểu tượng văn hoá. Chuẩn bị cho tuổi già cần dựa vào sức khoẻ, kế hoạch tài chính, sự gắn bó gia đình và lời khuyên của người có chuyên môn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.