ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Tuổi Đinh Tỵ nam mạng trên lá số: Thiên Mã đứng cùng Thiên Khôi, Cự Môn hoá Kỵ

Nam Đinh Tỵ (1917, 1977) là âm nam, vận nghịch; Thiên Mã đứng cùng Thiên Khôi ở Hợi, Lộc Tồn gặp Đào Hoa ở Ngọ, Đà La ở ô Thái Tuế, Triệt ở Dần Mão.

An open wooden boat moored at a quiet river wharf at night, a man seen from behind loading clay jars by the light of a single oil lamp, deep indigo water

Có một ô trên lá số nam Đinh Tỵ mà người xem lá số theo lối cũ hay chỉ vào trước tiên: ô Hợi, nơi Thiên Mã đứng chung với Thiên Khôi. Ngựa đi cùng quý nhân là hình ảnh sách xưa ưa dùng cho người "ra ngoài gặp người giúp". Cùng ô còn có Thiên Hư và Tuế Phá, hai sao nghe kém vui. Phần còn lại của bộ khung theo năm (1917, 1977, 2037): Lộc Tồn ở Ngọ cùng Đào Hoa, Kình Dương ở Mùi, Đà La ở Tỵ trùng Thái Tuế, Thiên Việt ở Dậu, Tuần ở Tý – Sửu, Triệt ở Dần – Mão.

Đinh là âm can, nên nam Đinh Tỵ là âm nam, đại vận đi nghịch. Nạp âm Sa Trung Thổ, đất trong cát. Bài này đọc ô Hợi, tứ hoá can Đinh, dải Triệt "trống" ở Dần – Mão, và so với Kỷ Tỵ để thấy hai tuổi cùng chi khác nhau thế nào.

Ô Hợi: Thiên Mã, Thiên Khôi, Thiên Hư và Tuế Phá

Nhóm chi Tỵ Dậu Sửu đặt Thiên Mã ở Hợi. Can Đinh (chung với can Bính) đặt Thiên Khôi ở Hợi, Thiên Việt ở Dậu. Tuổi Tỵ đặt Thiên Hư ở Hợi, và vòng Thái Tuế từ Tỵ đếm thuận thì Tuế Phá, sao thứ bảy, đối diện chi năm, cũng ở Hợi. Thêm Hỷ Thần của vòng Bác Sĩ. Năm sao ấy cùng đứng ở ô đối xung với chi năm.

Sách xưa đọc Mã gặp Khôi là đi lại được người trên nâng đỡ, ra ngoài thì gặp người tốt. Thiên Hư và Tuế Phá kéo câu chuyện về phía khác: Hư là sự trống trải, Tuế Phá là sự đổi khác, phá cách. Người xem tổng hợp lại thành hình ảnh một chuyến đi mang tính bước ngoặt: rời chỗ cũ, gặp người mới, có mất có được.

Hình ảnh đó hay, nhưng vẫn là của cả lớp người sinh năm 1977. Nó chỉ thành chuyện của riêng bạn khi ô Hợi là cung Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc hoặc Tài Bạch. Một chi tiết kỹ thuật đáng nhớ: ô Hợi không gặp Tuần Triệt, nên cả Mã lẫn Khôi đều "thoáng", khác với Kỷ Tỵ cùng chi có Mã ở Hợi nhưng nằm trong Tuần.

Bộ khung sao theo năm của nam Đinh Tỵ

Vòng Bác Sĩ đi nghịch từ Ngọ; vòng Thái Tuế đi thuận từ Tỵ. Tất cả các ô dưới đây giống nhau trên mọi lá số nam Đinh Tỵ:

ÔSao an theo nămGhi chú
TỵĐà La, Thái Tuế, Phượng Các, Lực Sĩô chi năm
NgọLộc Tồn, Đào Hoa, Bác Sĩ, Thiếu Dương
MùiKình Dương, Tang Môn, Quan PhủKình đắc địa
ThânCô Thần, Thiếu Âm, Phục Binh
DậuThiên Việt, Long Trì, Quan Phù, Đại Hao
TuấtHồng Loan, Tử Phù, Bệnh Phù
HợiThiên Mã, Thiên Khôi, Thiên Hư, Tuế Phá, Hỷ Thầnđối xung chi năm
TýLong Đức, Phi Liêmtrong Tuần
SửuThiên Khốc, Hoa Cái, Bạch Hổ, Tấu Thưtrong Tuần
DầnPhúc Đức, Tướng Quântrong Triệt
MãoĐiếu Khách, Tiểu Haotrong Triệt
ThìnThiên Hỷ, Quả Tú, Trực Phù, Thanh Long

Đinh Tỵ thuộc tuần Giáp Dần nên Tuần ở Tý – Sửu; Triệt của can Đinh (chung với can Nhâm) ở Dần – Mão. Mệnh chủ tuỳ chi cung Mệnh, thân chủ theo chi năm Tỵ là Thiên Cơ.

Tứ hoá can Đinh: Thái Âm hoá Lộc, Cự Môn hoá Kỵ

Can Đinh cho Thái Âm hoá Lộc, Thiên Đồng hoá Quyền, Thiên Cơ hoá Khoa, Cự Môn hoá Kỵ. Đây là một trong những bộ tứ hoá ít dị bản nhất, nên lá số tuổi Đinh lập ở đâu cũng khớp nhau phần này.

Ba sao hoá Lộc, Quyền, Khoa đều thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương: mềm, tính toán, thiên về ổn định. Sách xưa vì thế hay nói tuổi Đinh hợp với công việc có nề nếp, tích luỹ dần, làm trong tổ chức. Thái Âm hoá Lộc gắn với tiền tích luỹ, nhà cửa, cũng gắn với người mẹ, người vợ; người xem theo lối cũ nói tuổi Đinh "nhờ phía nữ".

Cự Môn hoá Kỵ là chỗ sách phổ thông viết nặng nhất: Cự Môn là sao của lời nói, tranh luận, sự nghi ngờ; hoá Kỵ thành "thị phi", "khẩu thiệt". Đọc tỉnh hơn, đây là chủ đề về giao tiếp: người này dễ nói thẳng quá, hoặc dễ bị hiểu lầm khi giải thích. Nhận ra điều đó để nói chậm lại, viết rõ hơn là đủ. Cự Môn đóng cung nào, sáng hay tối, là tuỳ ngày giờ sinh, và đó mới là chỗ sách luận kỹ.

Triệt ở Dần – Mão: dải không vong gần như "trống"

Một nét lạ của lá số nam Đinh Tỵ là Triệt rơi vào hai ô gần như không có sao chính theo năm: Dần chỉ có Phúc Đức của vòng Thái Tuế và Tướng Quân của vòng Bác Sĩ, Mão chỉ có Điếu Khách và Tiểu Hao. Không có Lộc, Kình, Đà, Khôi, Việt, Mã hay sao duyên nào bị Triệt.

Tuần thì ở Tý – Sửu, che Long Đức, Phi Liêm, Thiên Khốc, Hoa Cái, Bạch Hổ, Tấu Thư. Trong số này có Khốc và Bạch Hổ là sao nặng tên, được Tuần làm nhẹ đi theo cách đọc của sách.

Kết quả là phần sao theo năm của nam Đinh Tỵ hầu như không bị không vong lấy mất cái gì đáng kể. Điều này không có nghĩa lá số tốt hơn tuổi khác; nó chỉ có nghĩa khi luận các sao theo năm, người xem ít phải trừ hao vì Tuần Triệt. Tuần Triệt sẽ có tiếng nói khi các ô Dần, Mão, Tý, Sửu trên lá số riêng chứa chính tinh quan trọng, hay là cung Mệnh, Thân.

Mệnh Sa Trung Thổ và năm loại cục của can Đinh

Can Đinh dùng ngũ hổ độn khởi Nhâm Dần (chung với can Nhâm). Cục của nam Đinh Tỵ theo chi cung Mệnh:

Cung Mệnh ởCụcQuan hệ với mệnh Thổ
Thìn, TỵHoả lục cụccục sinh mệnh
Thân, DậuThổ ngũ cụcđồng hành
Dần, Mão, Tuất, HợiKim tứ cụcmệnh sinh cục
Ngọ, MùiThuỷ nhị cụcmệnh khắc cục
Tý, SửuMộc tam cụccục khắc mệnh

Mệnh ở Tỵ, ô chi năm có Đà La và Thái Tuế, được Hoả lục cục sinh mệnh Thổ. Mệnh ở Hợi, ô có Mã và Khôi, là Kim tứ cục, mệnh sinh cục. Mệnh ở Tý hay Sửu thì nằm trong Tuần và gặp Mộc tam cục khắc mệnh.

Người sinh năm 1977 năm nay khoảng năm mươi tuổi; âm nam đi nghịch nên đều đang ở vận thứ năm tại cung Tài Bạch, người Thuỷ nhị cục sắp sang vận thứ sáu tại Tật Ách từ 52 tuổi. Vận Tật Ách trong sách xưa là đề mục sức khoẻ; đọc hôm nay nó chỉ nên được hiểu như lời nhắc khám định kỳ, không phải lời đoán bệnh.

Lộc Tồn gặp Đào Hoa ở Ngọ, Kình Dương đắc địa ở Mùi

Can Đinh đặt Lộc Tồn ở Ngọ; nhóm Tỵ Dậu Sửu đặt Đào Hoa cũng ở Ngọ. Thêm Bác Sĩ và Thiếu Dương của vòng Thái Tuế. Đây là ô "giữ của" mà có duyên: người xem theo lối cũ hay nói của đến nhờ giao tiếp, nhờ vẻ dễ mến. Trên lá số Kỷ Tỵ cũng có đúng tổ hợp này, vì hai tuổi chung Lộc và chung chi.

Kình Dương ở Mùi thuộc bốn ô đắc địa, đứng cùng Tang Môn và Quan Phủ. Đà La ở Tỵ, ô chi năm, đứng với Thái Tuế, Phượng Các và Lực Sĩ. Sách đọc Đà La gặp Thái Tuế ở chi năm là người nghĩ lâu, nói chắc, ít khi đổi ý; Phượng Các đi cùng thêm nét chỉn chu, ưa hình thức đẹp.

Nếu Mệnh nam Đinh Tỵ đóng ở Ngọ, Lộc Tồn và Đào Hoa thủ Mệnh, cục là Thuỷ nhị cục (mệnh khắc cục) theo bảng phía dưới. Nếu Mệnh ở Mùi, Kình Dương đắc địa thủ Mệnh, cũng Thuỷ nhị cục. Hai trường hợp ấy cho hai chân dung rất khác: một người khéo, mềm, biết giữ; một người cứng, quyết, dám làm. Cùng tuổi, cùng giới, chỉ lệch một ô Mệnh là đủ đổi hẳn lời sách.

Hồng Loan ở Tuất, Thiên Hỷ cùng Quả Tú ở Thìn

Tuổi Tỵ đặt Hồng Loan ở Tuất, Thiên Hỷ đối diện ở Thìn. Nhóm Tỵ Ngọ Mùi đặt Cô Thần ở Thân, Quả Tú ở Thìn. Vậy ô Thìn của nam Đinh Tỵ gom Thiên Hỷ với Quả Tú, thêm Trực Phù và Thanh Long; ô Tuất có Hồng Loan cùng Tử Phù, Bệnh Phù.

Sách phổ thông hay rút từ Hỷ gặp Quả lời "vui mà lẻ", "hỷ sự đến lúc một mình". Cần để ý rằng Quả Tú thì chung cho cả ba tuổi Tỵ, Ngọ, Mùi, còn Thiên Hỷ đổi theo từng chi; trong nhóm ấy chỉ tuổi Tỵ mới có Hỷ ở Thìn trùng với Quả Tú. Đó là một nét riêng nhỏ của tuổi này.

Trục Thìn – Tuất là trục xung chiếu, nên Hồng Loan và Thiên Hỷ nhìn nhau qua lá số như mọi tuổi khác. Nếu trục này trùng trục Mệnh – Thiên Di, sách sẽ đọc là người có duyên với giao tế, với những dịp vui; nếu trùng trục Tử Tức – Điền Trạch, chủ đề lại là gia đình, nhà cửa. Không có trục nào được đọc riêng ra khỏi cung của nó.

Đinh Tỵ và Kỷ Tỵ: cùng chi, cùng Lộc, khác những gì

Hai tuổi Đinh Tỵ và Kỷ Tỵ cách nhau mười hai năm, cùng chi Tỵ nên vòng Thái Tuế, Hồng Loan, Đào Hoa, Cô Quả, Thiên Mã giống hệt; can Đinh và Kỷ lại chung Lộc Tồn ở Ngọ nên Kình, Đà cũng trùng. Nhìn lướt, hai lá số tưởng như một.

Nhưng quý nhân khác: Đinh có Khôi ở Hợi, Việt ở Dậu; Kỷ có Khôi ở Tý, Việt ở Thân. Tuần khác: Đinh Tỵ ở Tý – Sửu, Kỷ Tỵ ở Tuất – Hợi. Triệt khác: Đinh ở Dần – Mão, Kỷ ở Thân – Dậu. Hệ quả rõ nhất là ô Hợi: với Đinh Tỵ là Mã đi cùng Khôi, thoáng; với Kỷ Tỵ là Mã một mình trong Tuần. Tứ hoá khác hẳn: Đinh xoay quanh Thái Âm, Đồng, Cơ, Cự; Kỷ xoay quanh Vũ, Tham, Lương, Văn Khúc. Nạp âm cũng khác: đất trong cát và gỗ rừng lớn.

Nhìn hai tuổi cạnh nhau là cách tốt để hiểu lá số không phải "tuổi Tỵ thì thế này". Cấu trúc của nó nhiều lớp, và mỗi lớp đổi theo một quy tắc riêng. Chính vì nhiều lớp như vậy mà lá số đáng đọc như một công trình văn hoá, còn dùng nó để phán một đời người thì quá sức. Muốn ôn lại cách các lớp sao này được an, có thể đọc loạt bài nhập môn ở trungtamtuvi.com.

Lời sách phổ thông về nam Đinh Tỵ

Sách xem tuổi phổ thông tả nam Đinh Tỵ là người khôn khéo, ăn nói có duyên, "hay đi xa", "trung niên có của". Ý đi xa từ Thiên Mã, ý ăn nói có duyên từ Đào Hoa đi với Lộc Tồn, ý có của có lẽ từ Thái Âm hoá Lộc. Cũng có bản chép câu "dễ mang tiếng vì lời nói" — dấu vết của Cự Môn hoá Kỵ.

Những nét ấy có thể dùng làm gương soi nhẹ nhàng. Thứ nên gạt bỏ là các lời về vợ con, về "hợp tuổi này, kỵ tuổi kia", vì chúng không xuất phát từ lá số đầy đủ của người nào. Ở tuổi năm mươi, lá số đáng đọc nhất có lẽ là như một cuốn sổ cũ: lật lại xem những chủ đề nào đã thật sự lớn trong đời mình, và nhận ra rằng phần lớn câu chuyện là do chính mình viết.

Câu hỏi thường gặp

Thiên Mã của nam Đinh Tỵ ở đâu, có gặp Tuần Triệt không?

Thiên Mã của tuổi Tỵ ở Hợi, đứng cùng Thiên Khôi của can Đinh. Tuần của Đinh Tỵ ở Tý – Sửu, Triệt ở Dần – Mão, nên ô Hợi không gặp không vong.

Tứ hoá can Đinh có dị bản không?

Rất ít. Bản thông dụng là Thái Âm hoá Lộc, Thiên Đồng hoá Quyền, Thiên Cơ hoá Khoa, Cự Môn hoá Kỵ. Các dị bản đáng kể của tứ hoá chủ yếu nằm ở can Canh, Nhâm, Mậu, Tân.

Cự Môn hoá Kỵ có nghĩa là hay bị thị phi?

Sách phổ thông viết như vậy, nhưng cách hiểu cân bằng là một chủ đề về giao tiếp: dễ nói thẳng, dễ bị hiểu lầm. Muốn luận kỹ cần biết Cự Môn đóng cung nào và ở ô sáng hay tối.

Đinh Tỵ và Kỷ Tỵ có giống nhau không?

Giống ở Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La và các sao theo chi Tỵ. Khác ở Khôi Việt, Tuần, Triệt, tứ hoá và nạp âm. Ô Hợi là ví dụ rõ: Đinh Tỵ có Mã cùng Khôi, Kỷ Tỵ có Mã trong Tuần.

Người sinh năm 1977 đang ở đại vận nào?

Âm nam đi nghịch, vận thứ năm ở Tài Bạch bắt đầu từ 42 đến 46 tuổi tuỳ cục. Năm nay họ khoảng năm mươi tuổi nên đang ở vận này; người Thuỷ nhị cục sẽ sang vận Tật Ách từ 52 tuổi.

Vận Tật Ách có phải là lúc dễ mắc bệnh?

Không nên hiểu như vậy. Tật Ách trong sách xưa chỉ là đề mục sức khoẻ; lá số không chẩn đoán được bệnh. Ở tuổi năm mươi, khám sức khoẻ định kỳ và nghe thầy thuốc là việc nên làm với mọi người.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.