ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Lá số tuổi Quý Hợi nam mạng 1983: Tuần và Triệt cùng ở Tý–Sửu, Lộc Kình bị che

Nam Quý Hợi (1923, 1983) là âm nam, vận nghịch; Tuần và Triệt cùng đóng ở Tý–Sửu, che Lộc Tồn, Kình Dương và Đào Hoa; Thiên Việt đứng cùng Thiên Mã ở Tỵ.

Low tide on a wide Vietnamese mudflat at dusk, a lone man seen from behind carrying a bamboo basket toward the water line, indigo sky with a thin gold band

Quý Hợi là năm cuối cùng của vòng sáu mươi hoa giáp, và lá số nam Quý Hợi (1923, 1983, 2043) có một điểm hiếm: Tuần và Triệt cùng đóng ở hai ô Tý – Sửu. Hai ô ấy lại chứa Lộc Tồn (Tý), Kình Dương (Sửu) và Đào Hoa (Tý). Ngoài vùng không vong là Đà La ở Hợi trùng ô Thái Tuế, Thiên Khôi ở Mão, Thiên Việt ở Tỵ đứng cùng Thiên Mã.

Quý là âm can, nam Quý Hợi là âm nam, đại vận đi nghịch. Nạp âm Đại Hải Thuỷ, dùng chung với Nhâm Tuất. Người sinh năm 1983 đang ở tuổi bốn mươi ba, bốn mươi bốn. Bài này giải thích vì sao Tuần Triệt chồng nhau, các phái đọc chồng lớp ấy thế nào, và đọc các ô còn lại của bộ khung.

Vì sao Tuần và Triệt lại trùng nhau ở Tý – Sửu

Tuần và Triệt an theo hai quy tắc độc lập. Tuần tính theo tuần giáp: mỗi tuần mười năm bắt đầu bằng một năm Giáp, và hai chi không xuất hiện trong mười năm ấy là chỗ đóng Tuần. Quý Hợi thuộc tuần Giáp Dần (Giáp Dần, Ất Mão… đến Quý Hợi), tuần này thiếu Tý và Sửu. Triệt tính theo can năm: can Mậu và can Quý có Triệt ở Tý – Sửu.

Hai quy tắc tình cờ cho cùng một kết quả ở một số ít tuổi. Ngoài Quý Hợi, Mậu Ngọ (cũng thuộc tuần Giáp Dần, can Mậu) có Tuần Triệt cùng ở Tý – Sửu; Nhâm Tý và Đinh Mùi có Tuần Triệt cùng ở Dần – Mão; vài tuổi khác có trùng ở các cặp ô còn lại. Mục Lá số theo tuổi của trang đã có bài về Nhâm Tý với chồng lớp ở Dần – Mão.

Sách xưa không có lời thống nhất về Tuần Triệt đồng cung. Một số phái cho rằng hai lớp chặn cộng lại thành rất nặng, như cửa đóng hai lần. Một số khác lập luận theo kiểu "phủ định của phủ định": hai lực chặn triệt tiêu lẫn nhau, ô ấy gần như trở lại bình thường. Lại có phái nói Triệt mạnh ở nửa đầu đời, Tuần ở nửa sau, nên chồng nhau nghĩa là ô ấy bị che suốt đời nhưng ở mức nhẹ. Ba cách đọc đối nghịch nhau là dấu hiệu rõ rằng đây là vùng quan niệm, không phải quy luật kiểm chứng được.

Bộ khung sao theo năm của nam Quý Hợi

Vòng Bác Sĩ đi nghịch từ Lộc Tồn ở Tý (âm nam); vòng Thái Tuế đi thuận từ Hợi. Mọi lá số nam Quý Hợi đều giống bảng này:

ÔSao an theo nămGhi chú
TýLộc Tồn, Đào Hoa, Bác Sĩ, Thiếu DươngTuần + Triệt
SửuKình Dương, Tang Môn, Quan PhủTuần + Triệt; Kình đắc
HợiĐà La, Thái Tuế, Phượng Các, Lực Sĩô chi năm
TuấtThiên Hỷ, Quả Tú, Thanh Long, Trực Phù
DậuTiểu Hao, Điếu Khách
ThânTướng Quân, Phúc Đức
MùiThiên Khốc, Hoa Cái, Bạch Hổ, Tấu Thư
NgọLong Đức, Phi Liêm
TỵThiên Việt, Thiên Mã, Thiên Hư, Tuế Phá, Hỷ Thần
ThìnHồng Loan, Tử Phù, Bệnh Phù
MãoThiên Khôi, Long Trì, Quan Phù, Đại Hao
DầnCô Thần, Thiếu Âm, Phục Binh

Mệnh chủ tuỳ chi cung Mệnh; thân chủ theo chi năm Hợi là Thiên Cơ. Tứ hoá can Quý: Phá Quân hoá Lộc, Cự Môn hoá Quyền, Thái Âm hoá Khoa, Tham Lang hoá Kỵ, ít dị bản.

Đối chiếu với nữ Quý Hợi (âm nữ, đi thuận): phần theo can chi giữ nguyên, chỉ vòng Bác Sĩ đổi chiều, nên Lực Sĩ của chị em sang Sửu cạnh Kình Dương, Quan Phủ sang Hợi cùng Đà La.

Lộc Tồn, Kình Dương, Đào Hoa trong vùng che kép

Can Quý đặt Lộc Tồn ở Tý, Kình Dương ở Sửu. Nhóm Hợi Mão Mùi đặt Đào Hoa ở Tý. Cả ba nằm trong vùng Tuần Triệt chồng nhau. Kình ở Sửu vốn đắc địa; Lộc ở Tý thì đứng cùng Bác Sĩ, Thiếu Dương; ô Sửu còn có Tang Môn và Quan Phủ.

Theo phái coi Tuần Triệt chồng là nặng, đây là lá số "lộc bị khoá hai lần", của đến khó, phải tự làm từ đầu. Theo phái coi hai lớp chặn hoá giải nhau, Lộc và Kình gần như còn nguyên sức. Sách phổ thông Việt Nam thường theo cách đọc thứ nhất và viết nam Quý Hợi "tiền vận vất vả, tự lập".

Đọc hôm nay, cách hữu ích nhất là không chọn phe. Hãy xem ô Tý và ô Sửu trên lá số của bạn là cung gì. Nếu chúng là Tài Bạch và Tật Ách, câu chuyện "lộc bị che" có liên quan đến chủ đề tiền bạc của bạn ở mức biểu tượng; nếu chúng là Huynh Đệ và Mệnh, câu chuyện ấy dời sang chính bạn và anh em. Còn nếu là Nô Bộc và Thiên Di, nó gần như không chạm vào chuyện tiền. Một cấu trúc, nhiều câu chuyện, tuỳ cái nhãn cung.

Thiên Việt cùng Thiên Mã ở Tỵ, Thiên Khôi ở Mão

Can Quý (chung với can Nhâm) đặt Thiên Khôi ở Mão, Thiên Việt ở Tỵ. Nhóm Hợi Mão Mùi đặt Thiên Mã ở Tỵ. Vậy ô Tỵ của nam Quý Hợi gom Thiên Việt và Thiên Mã, thêm Thiên Hư, Tuế Phá của tuổi Hợi và Hỷ Thần của vòng Bác Sĩ. Ô Tỵ đối xung với chi năm Hợi, nên đây là ô "đối mặt" với Thái Tuế.

Sách xưa đọc Mã gặp quý nhân là đi xa gặp người giúp; Hư và Tuế Phá lại nói tới sự trống trải, đổi khác. Hình ảnh tổng hợp: một chuyến đi để thay đổi, có người đỡ nhưng cũng có những điều phải bỏ lại. Cấu trúc ô Tỵ của Quý Hợi rất giống ô Hợi của Đinh Tỵ (Mã cùng Khôi, Hư, Tuế Phá), chỉ đổi Thiên Khôi thành Thiên Việt, vì hai tuổi là cặp đối xung Tỵ – Hợi.

Thiên Khôi ở Mão đứng cùng Long Trì, Quan Phù và Đại Hao, không gặp không vong. Như vậy cả hai quý nhân của nam Quý Hợi đều thoáng, trong khi Lộc và Kình bị che. Người xem theo lối cũ hay tóm: "của tự làm, người giúp thì có". Đó là một cách kể dễ nhớ, chỉ nên dùng như gợi ý.

Đà La đứng ô Thái Tuế và câu chuyện "người cuối vòng"

Đà La lùi một ô sau Lộc Tồn ở Tý nên rơi vào Hợi, đúng ô chi năm, cùng Thái Tuế, Phượng Các và Lực Sĩ. Ô Hợi không thuộc bốn ô đắc địa của Đà. Sách đọc Đà La ở Thái Tuế là tính giữ ý, nghĩ lâu, có khi ôm việc; Phượng Các thêm vẻ chỉn chu.

Vì Quý Hợi là năm thứ sáu mươi của vòng hoa giáp, một số sách phổ thông thêm vào lời luận những ý mang tính biểu tượng như "người khép lại một chu kỳ", "hay làm nốt việc người khác bỏ dở". Đây thuần tuý là liên tưởng từ vị trí cuối vòng, không có cơ sở trong các quy tắc an sao. Cũng như Giáp Tý đứng đầu vòng không vì thế mà "mở đầu" điều gì.

Điều nói chắc được là: cặp đối xung Tỵ – Hợi trên lá số nam Quý Hợi là trục quan trọng nhất của phần sao theo năm, một đầu là Thái Tuế với Đà La, một đầu là Tuế Phá với Mã và Việt. Nếu trục này trùng trục Mệnh – Thiên Di, nó sẽ là chủ đề lớn của lá số; nếu trùng trục Tử Tức – Điền Trạch hay Huynh Đệ – Nô Bộc, nó lùi xuống thành nền.

Hồng Loan ở Thìn, Thiên Hỷ cùng Quả Tú ở Tuất, Thiên Khốc gặp Hoa Cái ở Mùi

Tuổi Hợi đặt Hồng Loan ở Thìn và Thiên Hỷ ở Tuất. Nhóm Hợi Tý Sửu đặt Cô Thần ở Dần, Quả Tú ở Tuất. Như vậy ô Tuất của nam Quý Hợi gom Thiên Hỷ, Quả Tú, Thanh Long và Trực Phù; ô Thìn có Hồng Loan cùng Tử Phù và Bệnh Phù; ô Dần có Cô Thần, Thiếu Âm và Phục Binh. Không ô nào trong ba ô này gặp Tuần Triệt.

Ô Mùi đáng một dòng riêng: Thiên Khốc của tuổi Hợi rơi vào Mùi, Hoa Cái của nhóm Hợi Mão Mùi cũng ở Mùi, thêm Bạch Hổ của vòng Thái Tuế và Tấu Thư của vòng Bác Sĩ. Khốc đi cùng Hoa Cái được một số sách đọc là "giọng buồn mà hay", gắn với người có khiếu văn nghệ, ăn nói cảm động; Tấu Thư cùng ô thêm nét chữ nghĩa. Bạch Hổ thì bị sách phổ thông đọc nặng, nhưng ở đây nó chỉ là sao thứ chín của vòng Thái Tuế, ai tuổi Hợi cũng có ở Mùi.

Đọc ba ô này cũng theo nguyên tắc chung của bài: tổ hợp chỉ có tiếng nói khi ô đó là một cung gần với chủ đề đang hỏi. Một lá số có Mệnh ở Mùi sẽ được người xem tả là người sâu sắc, giàu cảm xúc, có giọng riêng; lá số có Mệnh ở Tuất thì là người vui tính mà thích tự lập. Hai bức chân dung khác nhau trong cùng một năm sinh, và cả hai vẫn chỉ là chân dung theo sách.

Mệnh Đại Hải Thuỷ và năm loại cục của can Quý

Can Quý dùng ngũ hổ độn khởi Giáp Dần (chung với can Mậu). Cục của nam Quý Hợi theo chi cung Mệnh:

Cung Mệnh ởCụcTuổi khởi vậnQuan hệ với mệnh Thuỷ
Dần, Mão, Tuất, HợiThuỷ nhị cục2đồng hành
Thân, DậuMộc tam cục3mệnh sinh cục
Tý, SửuKim tứ cục4cục sinh mệnh
Thìn, TỵThổ ngũ cục5cục khắc mệnh
Ngọ, MùiHoả lục cục6mệnh khắc cục

Nhâm Tuất và Quý Hợi cùng nạp âm Đại Hải Thuỷ nhưng bảng cục khác hẳn: với Nhâm Tuất, bốn ô Dần Mão Tuất Hợi là Kim tứ cục sinh mệnh; với Quý Hợi, cũng bốn ô ấy lại là Thuỷ nhị cục đồng hành. Mệnh nam Quý Hợi ở Tý hay Sửu, trong vùng che kép, gặp Kim tứ cục sinh mệnh, một lớp thuận chồng lên lớp không vong.

Người sinh năm 1983 năm nay bốn mươi bốn tuổi theo lối tuổi mụ. Âm nam đi nghịch: với Thuỷ nhị cục họ đã sang vận thứ năm tại Tài Bạch từ 42 tuổi; với Hoả lục cục họ còn ở vận thứ tư tại Tử Tức đến 45 tuổi.

Tứ hoá can Quý: Phá Quân hoá Lộc, Tham Lang hoá Kỵ

Can Quý cho Phá Quân hoá Lộc, Cự Môn hoá Quyền, Thái Âm hoá Khoa, Tham Lang hoá Kỵ. Phá Quân hoá Lộc được sách đọc là lộc đến từ sự thay đổi, từ việc dám bỏ cái cũ làm cái mới; Cự Môn hoá Quyền là quyền của lời nói, của người thuyết phục giỏi; Thái Âm hoá Khoa là tiếng tốt nhẹ nhàng, gắn với sự chu đáo.

Tham Lang hoá Kỵ là phần sách phổ thông viết nhiều: Tham Lang là sao của ham muốn, giao du, hưởng thụ; hoá Kỵ thành "dục vọng gây phiền", "mê đắm". Hiểu cân bằng: đây là chủ đề về sự cân nhắc giữa muốn và cần, giữa vui chơi và trách nhiệm. Một chủ đề ai cũng có, chỉ là ở lá số này nó được ký hiệu rõ hơn.

Bốn sao hoá đóng cung nào là tuỳ ngày, giờ sinh. Năm sinh chỉ cho biết tên sao hoá. Lá số rốt cuộc là một bộ ký hiệu để kể chuyện về con người; dùng nó để soi lại thói quen của mình thì có ích, dùng để quyết chuyện nghề, chuyện nhà thay cho suy xét thật thì không nên.

Câu hỏi thường gặp

Tuần và Triệt của tuổi Quý Hợi đóng ở đâu?

Cả hai cùng ở Tý – Sửu. Tuần theo tuần Giáp Dần thiếu Tý và Sửu; Triệt của can Quý (chung với can Mậu) cũng ở Tý – Sửu. Đây là một trong số ít tuổi có Tuần Triệt chồng nhau.

Tuần Triệt đồng cung thì nặng hơn hay nhẹ đi?

Các phái không thống nhất. Có phái cho là chặn hai lần nên nặng; có phái cho rằng hai lớp chặn hoá giải nhau; có phái nói ô ấy bị che suốt đời ở mức nhẹ. Ba cách đọc trái nhau cho thấy đây là vùng quan niệm.

Lộc Tồn của nam Quý Hợi có bị che không?

Có. Lộc Tồn của can Quý ở Tý, nằm trong vùng Tuần Triệt chồng nhau, cùng Đào Hoa; Kình Dương ở Sửu cũng vậy. Mức ảnh hưởng tuỳ ô Tý, Sửu là cung gì trên lá số cụ thể.

Quý Hợi và Nhâm Tuất cùng Đại Hải Thuỷ có giống nhau không?

Không giống. Can khác nên Lộc, Kình Đà, Khôi Việt, tứ hoá, Triệt đều khác; chiều vận cũng ngược vì Nhâm Tuất là dương nam, Quý Hợi là âm nam. Bảng cục theo cung Mệnh cũng khác hẳn.

Tham Lang hoá Kỵ có nghĩa là người ham chơi?

Không nên hiểu đơn giản như vậy. Tham Lang hoá Kỵ chỉ gợi chủ đề về sự cân nhắc giữa ham muốn và trách nhiệm. Muốn đọc kỹ cần biết Tham Lang đóng cung nào và đi cùng những sao gì.

Quý Hợi là năm cuối hoa giáp thì có ý nghĩa đặc biệt không?

Về quy tắc an sao thì không. Những lời như "người khép lại chu kỳ" là liên tưởng của sách phổ thông từ vị trí cuối vòng sáu mươi năm, không đến từ cấu trúc lá số.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.