Hai người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ, một nam một nữ, có lá số giống nhau ở gần như mọi thứ: cung Mệnh, cung Thân, cục, mười bốn chính tinh, Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, tứ hoá, Tuần Triệt, các sao theo tháng và giờ, vòng Thái Tuế. Chỗ khác nằm ở bốn thứ có "chiều": đại vận, tiểu hạn, vòng Tràng Sinh và vòng Bác Sĩ. Ngoài ra là lời sách, vốn có những đoạn viết riêng cho nữ mạng trong bối cảnh xã hội cũ.
Bài này liệt kê chính xác những gì khác và những gì không khác, giải thích quy tắc âm dương nam nữ đứng sau, đưa một ví dụ giả định đặt hai lá số cạnh nhau, rồi bàn những lời sách xưa viết riêng cho nữ giới nên hiểu thế nào hôm nay.
Thành phần nào đổi, thành phần nào giữ nguyên
Đặt hai lá số cùng thời điểm sinh cạnh nhau, khác biệt duy nhất là giới tính. Bảng tổng hợp:
| Thành phần | Có khác giữa nam và nữ không | Theo quy tắc nào |
|---|---|---|
| Cung Mệnh, cung Thân, mười hai cung | Không | Theo tháng và giờ sinh |
| Cục, bản mệnh | Không | Theo can chi năm và cung Mệnh |
| Mười bốn chính tinh | Không | Theo cục và ngày sinh |
| Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Khôi Việt, tứ hoá | Không | Theo can năm |
| Tuần, Triệt, vòng Thái Tuế, các sao theo chi năm | Không | Theo can chi năm |
| Đại vận | Có: chiều thuận hoặc nghịch | Dương nam, âm nữ đi thuận; âm nam, dương nữ đi nghịch |
| Tiểu hạn | Có: chiều thuận hoặc nghịch | Nam đi thuận, nữ đi nghịch, cùng điểm khởi |
| Vòng Tràng Sinh | Có: chiều | Như đại vận |
| Vòng Bác Sĩ | Có: chiều | Như đại vận |
| Thiên Thương, Thiên Sứ | Tuỳ dị bản | Phổ biến là không đổi; có tài liệu đổi chỗ theo âm dương |
Nhìn bảng sẽ thấy phần "bức tranh tĩnh" của lá số, tức những gì đọc cho tính cách và cấu trúc cung, gần như giống hệt nhau giữa nam và nữ. Khác biệt tập trung vào phần "động": nhịp đi của các giai đoạn và hai vòng sao có chiều.
Quy tắc âm dương nam nữ đứng sau chiều đi
Can năm sinh chia thành dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) và âm (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý). Ghép với giới tính ra bốn loại: dương nam, âm nam, dương nữ, âm nữ. Quy tắc chung: dương nam và âm nữ đi thuận chiều kim đồng hồ; âm nam và dương nữ đi nghịch. Người xưa giải thích bằng nguyên lý âm dương hoà hợp: nam thuộc dương, gặp năm dương là "thuận", nên đi thuận; nữ thuộc âm, gặp năm âm là "thuận", nên cũng đi thuận.
Vì quy tắc dựa vào can năm, hai người cùng năm sinh khác giới luôn đi ngược chiều nhau. Một năm Giáp: nam đi thuận, nữ đi nghịch. Một năm Ất: nam đi nghịch, nữ đi thuận. Không có năm nào mà nam nữ cùng chiều.
Riêng tiểu hạn dùng một quy tắc khác, đơn giản hơn: nam luôn đi thuận, nữ luôn đi nghịch, không xét âm dương của năm. Điểm khởi tiểu hạn thì như nhau cho cả hai giới, tính theo tam hợp chi năm: tuổi Dần, Ngọ, Tuất khởi ở Thìn; Thân, Tý, Thìn khởi ở Tuất; Tỵ, Dậu, Sửu khởi ở Mùi; Hợi, Mão, Mùi khởi ở Sửu.
Ví dụ giả định: Giáp Tý, cùng giờ sinh, một nam một nữ
Giả định hai người sinh năm Giáp Tý, tháng Giêng, giờ Tý. Như bài về ô giữa lá số đã tính, Mệnh ở Dần, cục Hoả lục. Người nam là dương nam, người nữ là dương nữ:
| Thành phần | Dương nam | Dương nữ |
|---|---|---|
| Đại vận 6–15 tuổi | Dần | Dần |
| Đại vận 16–25 tuổi | Mão | Sửu |
| Đại vận 26–35 tuổi | Thìn | Tý |
| Đại vận 36–45 tuổi | Tỵ | Hợi |
| Tiểu hạn 1 tuổi | Tuất | Tuất |
| Tiểu hạn 2 tuổi | Hợi | Dậu |
| Tiểu hạn 3 tuổi | Tý | Thân |
| Tràng Sinh, Mộc Dục | Dần, Mão | Dần, Sửu |
| Lộc Tồn, Bác Sĩ, Lực Sĩ | Dần, Dần, Mão | Dần, Dần, Sửu |
Hai lá số khởi cùng một điểm rồi tách theo hai hướng. Đến đại vận thứ tư, người nam ở Tỵ, người nữ ở Hợi, hai cung đối nhau. Với cùng một chuỗi chính tinh, hai người đi qua các cung theo thứ tự ngược nhau, nên những giai đoạn mà lời bình cho là "thuận" hay "khó" của họ rơi vào những tuổi khác nhau.
Các vòng có chiều cũng tách ra từ bước thứ hai: Tràng Sinh của Hoả cục khởi ở Dần cho cả hai, nhưng Mộc Dục của nam ở Mão, của nữ ở Sửu. Lộc Tồn tuổi Giáp ở Dần cho cả hai, vòng Bác Sĩ đi thuận với nam, nghịch với nữ.
Đi nghịch nghĩa là đại vận thứ hai rơi vào cung khác hẳn
Mười hai cung chức năng xếp nghịch từ Mệnh: cung liền sau Mệnh theo chiều nghịch là Huynh Đệ, cung liền trước theo chiều thuận là Phụ Mẫu. Vì vậy người đi đại vận thuận có đại vận thứ hai ở cung Phụ Mẫu, thứ ba ở Phúc Đức, thứ tư ở Điền Trạch, thứ năm ở Quan Lộc. Người đi nghịch có đại vận thứ hai ở Huynh Đệ, thứ ba ở Phu Thê, thứ tư ở Tử Tức, thứ năm ở Tài Bạch.
Hai chuỗi này chỉ gặp lại nhau ở đại vận thứ bảy, khi cả hai cùng đến cung Thiên Di, cung đối diện Mệnh, từ hai phía. Như vậy trong sáu đại vận đầu, tức khoảng sáu mươi năm đầu đời, người nam và người nữ cùng ngày giờ sinh đi qua hai nửa khác nhau của lá số.
Hệ quả cho người đọc: không thể mượn bảng đại vận của lá số nam để đọc cho lá số nữ cùng ngày giờ, hay ngược lại. Mỗi lá số phải lập bảng riêng. Lỗi này hay xảy ra khi người đọc chỉ có một lá số in sẵn và muốn suy cho người kia bằng cách "đổi giới trong đầu".
Những chỗ dễ nhầm khi so lá số nam và nữ
Vài nhầm lẫn kỹ thuật thường gặp, phần lớn đến từ việc nhớ nửa quy tắc:
- Áp quy tắc "nam thuận nữ nghịch" của tiểu hạn cho đại vận. Đại vận còn xét âm dương của can năm.
- Quên rằng vòng Bác Sĩ và vòng Tràng Sinh cũng đổi chiều, nên các sao như Lực Sĩ, Thanh Long, Mộc Dục, Quan Đới nằm ở chỗ khác.
- Tưởng Kình Dương, Đà La đổi chỗ theo giới. Hai sao này chỉ phụ thuộc can năm, giống nhau cho nam và nữ.
- Nhầm điểm khởi tiểu hạn theo giới. Điểm khởi giống nhau, chỉ chiều đi khác.
- Dùng lời bình viết cho nữ mạng trong sách cũ như thể đó là quy tắc an sao. Đó là lời diễn giải, không phải cấu trúc lá số.
Một cách kiểm nhanh khi có hai lá số khác giới cùng ngày giờ: mọi sao trừ hai vòng có chiều phải trùng vị trí. Nếu có sao khác lệch nữa, một trong hai lá số đang có lỗi nhập liệu.
Vì sao bức tranh tĩnh giống nhau lại quan trọng
Nhiều người nghĩ lá số nữ và lá số nam là hai loại khác nhau, với những bộ sao riêng. Thực tế, như bảng trên cho thấy, cấu trúc cung và các sao đọc cho tính cách là giống hệt. Một Thất Sát ở Mệnh của nữ và một Thất Sát ở Mệnh của nam đứng ở cùng vị trí, cùng độ sáng, cùng tam phương.
Khác biệt trong lời bình về tính cách vì thế không đến từ cách an sao, mà từ cách người xưa diễn giải cùng một sao cho hai giới trong xã hội của họ. Thất Sát ở Mệnh nam được khen là quyết đoán, có chí; ở Mệnh nữ, sách cũ lại viết là "cương", "khó hoà". Đó là sự khác biệt của chuẩn mực giới thời trước, không phải của lá số.
Nhận ra điều này giúp người đọc hôm nay đọc lá số nữ công bằng hơn: dùng cùng một bộ từ cho cùng một cấu trúc, rồi mới cân nhắc lời sách cũ như tư liệu văn hoá.
Lời sách xưa viết riêng cho nữ mạng
Sách đẩu số có cả những bài phú riêng cho nữ mạng, nổi tiếng nhất là Nữ mệnh cốt tuỷ phú. Những bài này phản ánh xã hội nơi vai trò của phụ nữ gắn chặt với gia đình chồng: lời khen là "vượng phu ích tử", "hiền thục"; lời chê là "khắc phu", "dâm", "cô khắc". Nhiều câu lấy các sao chủ năng động, quyền lực như Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Kình Dương làm dấu hiệu "không hợp nữ".
Hôm nay, những câu ấy cần được đọc như tư liệu về một thời. Một phụ nữ có Thất Sát ở Mệnh được mô tả bằng đúng những phẩm chất được khen ở nam giới: quyết đoán, có chí, dám làm. Một lá số không nói gì về hôn nhân của ai; những lời phán kiểu "khắc chồng" không có chỗ trong cách đọc tỉnh táo.
Các bài phú nữ mạng vẫn đáng đọc vì giá trị văn hoá và lịch sử: chúng cho thấy cách xã hội xưa nhìn người phụ nữ, và cách hệ biểu tượng được dùng để củng cố chuẩn mực ấy. Phần giải nghĩa từng câu phú có ở mục phú cổ thư.
Đọc lá số nam và nữ bằng cùng một thước đo
Điều nên giữ từ chuyện nam nữ trên lá số là một chi tiết kỹ thuật: chiều đại vận, tiểu hạn và hai vòng sao. Biết rõ chúng, người đọc sẽ không nhầm khi so lá số của hai người cùng ngày sinh. Điều nên bỏ là việc dùng lá số để gán vai trò giới hay phán chuyện hôn nhân.
Lá số là một hệ ký hiệu văn hoá cổ, đem lại ngôn ngữ để suy ngẫm về các giai đoạn đời người. Nó không quyết định được ai nên làm gì, sống với ai, hay mỗi giai đoạn sẽ ra sao. Những lựa chọn ấy thuộc về chính người trong cuộc, với thông tin thật và sự cân nhắc của họ.
Một lá số đọc công bằng là lá số mà nếu đổi giới tính trên giấy, mọi lời về tính cách vẫn giữ nguyên, chỉ phần nhịp đi của các giai đoạn thay đổi. Đó là phép thử đơn giản để biết một bản giải có đang mang định kiến của sách cũ vào hay không.
Câu hỏi thường gặp
Nam và nữ cùng ngày giờ sinh có cùng cung Mệnh không?
Có. Cung Mệnh, cung Thân, cục và mười bốn chính tinh chỉ phụ thuộc năm, tháng, ngày, giờ sinh, không phụ thuộc giới tính. Hai lá số chỉ khác ở chiều đại vận, tiểu hạn, vòng Tràng Sinh và vòng Bác Sĩ.
Vì sao dương nam đi đại vận thuận còn dương nữ đi nghịch?
Theo quan niệm âm dương: nam thuộc dương, gặp năm can dương là thuận nên đi thuận; nữ thuộc âm, gặp năm can dương là nghịch nên đi nghịch. Với năm can âm thì ngược lại. Đây là quy ước của môn, không có giải thích nào khác được thống nhất.
Tiểu hạn của nam và nữ khởi ở cùng cung không?
Có. Điểm khởi tiểu hạn tính theo tam hợp chi năm sinh, giống nhau cho cả hai giới. Sau đó nam đi thuận, nữ đi nghịch, không xét âm dương của can năm.
Đại vận đầu tiên của nam và nữ có giống nhau không?
Đại vận đầu tiên luôn ở cung Mệnh và bắt đầu từ tuổi bằng số cục, nên giống nhau. Từ đại vận thứ hai trở đi, hai người đi ngược chiều nên đi qua những cung khác nhau.
Lời sách nữ mạng như "khắc phu" có còn đúng không?
Những câu ấy phản ánh chuẩn mực của xã hội cũ, không còn phù hợp. Lá số không đủ cơ sở để nói gì về hôn nhân của ai. Nên đọc các bài phú nữ mạng như tư liệu văn hoá, và dùng cùng một thước đo khi đọc lá số nam và nữ.
Thiên Thương, Thiên Sứ có đổi chỗ theo giới không?
Theo cách phổ biến thì không: Thiên Thương ở Nô Bộc, Thiên Sứ ở Tật Ách với mọi người. Một số tài liệu đổi chỗ hai sao theo âm dương nam nữ. Dù theo cách nào, hai sao vẫn kẹp cung Thiên Di.