ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Thuật ngữ lá số tra nhanh

Sao an theo năm, tháng, ngày, giờ: bảng phân nhóm để tự kiểm lá số

Sao nào chỉ phụ thuộc can năm, sao nào theo chi năm, theo tháng, theo ngày hay giờ sinh. Bảng phân nhóm giúp tự kiểm lá số và hiểu người cùng tuổi giống nhau tới đâu.

Four small hourglasses of different sizes standing in a row on a dark wooden shelf, warm evening light through a window, shallow depth of field, amber and deep blue tones

Mỗi sao trên lá số được an từ một hoặc vài dữ kiện ngày sinh. Nhóm theo can năm gồm Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, tứ hoá, Triệt; nhóm theo chi năm gồm Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú, Thiên Khốc, Thiên Hư, vòng Thái Tuế; nhóm theo tháng gồm Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y; nhóm theo giờ gồm Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp. Mười bốn chính tinh phụ thuộc cả bốn dữ kiện, vì chúng an theo ngày sinh và cục, mà cục lại phụ thuộc can năm, tháng và giờ.

Biết sao nào đi theo dữ kiện nào có ba ích lợi: tự khoanh vùng lỗi khi hai lá số khác nhau, hiểu vì sao người cùng tuổi có nhiều điểm giống nhau trên lá số, và đọc các tài liệu "tử vi theo tuổi" với đúng kỳ vọng. Bài này trình bày bảng phân nhóm, chuỗi phụ thuộc của chính tinh, và cách dùng bảng trong thực tế.

Bảng phân nhóm sao theo dữ kiện an

Bảng dưới theo cách an phổ biến ở Việt Nam. Một vài sao có dị bản về cách an nhưng nhóm dữ kiện vẫn như vậy.

Dữ kiệnCác sao và yếu tố tiêu biểuGhi chú
Can nămLộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Quan, Thiên Phúc, tứ hoá năm sinh, Triệt, vòng Bác SĩVòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn, chiều theo âm dương nam nữ
Chi nămThiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hoa Cái, Kiếp Sát, Cô Thần, Quả Tú, Thiên Khốc, Thiên Hư, Long Trì, Phượng Các, Phá Toái, vòng Thái TuếNhiều sao an theo tam hợp chi năm
Can và chi nămTuần (theo tuần giáp)Phụ thuộc cả cặp can chi
Chi năm và giờHoả Tinh, Linh TinhĐiểm khởi theo chi năm, đếm theo giờ
ThángTả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Y, Thiên Giải, Địa GiảiTháng âm lịch; tháng nhuận có quy ước riêng
GiờVăn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Thai Phụ, Phong CáoThai Phụ, Phong Cáo đi quanh Văn Khúc
Tháng và giờCung Mệnh, cung Thân, Đẩu Quân (cùng chi năm)Mệnh, Thân quyết định vị trí mười hai cung
Ngày (cộng sao khác)Tam Thai, Bát Toạ (từ Tả Hữu), Ân Quang, Thiên Quý (từ Xương Khúc)Phụ thuộc thêm tháng hoặc giờ
Tất cảMười bốn chính tinh, ngũ hành cục, vòng Tràng Sinh, đại vậnQua chuỗi Mệnh, cục, Tử Vi

Đọc bảng sẽ thấy phần lớn phụ tinh chỉ phụ thuộc một dữ kiện. Đó là lý do người lập lá số có thể nhìn một ô và đoán ngay: sao này sai thì sai năm, sao kia sai thì sai giờ.

Một số sao cố định theo vị trí cung chứ không theo ngày sinh: Thiên La ở Thìn, Địa Võng ở Tuất; Thiên Thương ở cung Nô Bộc, Thiên Sứ ở cung Tật Ách. Chúng phụ thuộc gián tiếp vào Mệnh, tức vào tháng và giờ.

Chuỗi phụ thuộc của mười bốn chính tinh

Chính tinh là nhóm được đọc nhiều nhất, nhưng lại là nhóm phụ thuộc phức tạp nhất. Chuỗi đi như sau. Tháng sinh và giờ sinh cho vị trí cung Mệnh. Can năm cho can của từng cung (theo ngũ hổ độn). Can chi của cung Mệnh cho nạp âm, nạp âm cho ngũ hành cục. Cục số cùng ngày sinh cho vị trí Tử Vi. Từ Tử Vi suy ra Thiên Phủ và mười hai chính tinh còn lại.

Hệ quả là chỉ cần một mắt xích sai, cả mười bốn sao dịch chuyển. Sai giờ một canh có thể đổi cung Mệnh, đổi cục, đổi vị trí Tử Vi. Sai năm âm lịch (người sinh sát Tết) đổi can năm, đổi can cung, có thể đổi cục dù cung Mệnh vẫn nguyên chỗ. Sai ngày chỉ làm Tử Vi dịch, nhưng cũng đủ đổi toàn bộ chính tinh.

Ngược lại, có những trường hợp đổi dữ kiện mà chính tinh không đổi: hai ngày sinh liền nhau với cùng cục số có thể cho cùng vị trí Tử Vi, vì quy tắc an Tử Vi chia ngày theo cục số. Đây là lý do một số người sinh cách nhau một, hai ngày lại có bộ chính tinh giống hệt nhau, chỉ khác vài phụ tinh theo ngày.

Người cùng năm sinh giống nhau tới đâu trên lá số

Mọi người sinh cùng một năm âm lịch chia chung toàn bộ nhóm sao theo can năm và chi năm: cùng vị trí Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, cùng tứ hoá, cùng Tuần Triệt, cùng vòng Thái Tuế. Nam và nữ cùng năm còn khác nhau ở chiều vòng Bác Sĩ, vòng Tràng Sinh và chiều đại vận.

Đây chính là phần mà các sách "tử vi trọn đời theo tuổi" in hằng năm dựa vào: chúng chỉ dùng năm sinh và giới tính, nên chỉ nói được về những sao chung của cả một lứa tuổi. Những điều riêng của từng người, như cung Mệnh có sao gì, cục gì, đại vận đi qua đâu, nằm ở các nhóm theo tháng, ngày, giờ mà sách theo tuổi không có. Biết vậy để đọc loại sách ấy như một bức tranh chung, không phải lá số của riêng mình.

Một phép tính thô (ví dụ giả định): sáu mươi năm can chi, mười hai tháng, ba mươi ngày, mười hai canh giờ và hai giới cho khoảng năm trăm mười tám nghìn tổ hợp. Với một quốc gia khoảng một trăm triệu dân, trung bình mỗi lá số có chừng hai trăm người cùng chia, chưa kể số người sinh cùng ngày giờ trên khắp thế giới. Con số này nhắc rằng lá số mô tả một lớp người, không phải một cá nhân.

Ví dụ giả định: hai người cùng tuổi Giáp Thìn

Lấy hai người giả định cùng sinh năm Giáp Thìn: người thứ nhất tháng Ba giờ Ngọ, người thứ hai tháng Chín giờ Tý. Phần chung theo năm: Lộc Tồn ở Dần, Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu, Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi, Thiên Mã ở Dần, Đào Hoa ở Dậu, Hoa Cái ở Thìn, Triệt ở Thân – Dậu, Tuần ở Dần – Mão, cùng bộ tứ hoá Liêm Lộc, Phá Quyền, Vũ Khoa, Dương Kỵ.

Điều bất ngờ là cung Mệnh của hai người cũng trùng nhau. Người thứ nhất: từ Dần đếm thuận tới tháng Ba được Thìn, từ Thìn đếm nghịch tới giờ Ngọ được Tuất. Người thứ hai: từ Dần tới tháng Chín được Tuất, giờ Tý nên Mệnh ở ngay Tuất. Cùng Mệnh ở Tuất, cùng can năm Giáp, nên cùng là Giáp Tuất, Sơn Đầu Hoả, Hoả lục cục.

Khác nhau nằm ở nhóm theo tháng và giờ: người thứ nhất có Tả Phù ở Ngọ, Hữu Bật ở Thân, Văn Xương ở Thìn, Văn Khúc ở Tuất; người thứ hai có Tả Phù ở Tý, Hữu Bật ở Dần, Văn Xương ở Tuất, Văn Khúc ở Thìn. Chính tinh thì tuỳ ngày sinh. Ví dụ cho thấy rõ vì sao phải biết sao nào theo dữ kiện nào trước khi so hai lá số.

Dùng bảng phân nhóm để khoanh lỗi khi hai lá số khác nhau

Khi hai phần mềm cho hai lá số khác nhau của cùng một người, so theo trình tự sau sẽ biết ngay dữ kiện nào bị hiểu khác.

  1. So Lộc Tồn và tứ hoá. Khác nhau là can năm bị hiểu khác (thường do sinh sát Tết, hoặc dị bản tứ hoá của can Canh, can Nhâm).
  2. So Thiên Mã, Đào Hoa, Hoa Cái. Khác nhau là chi năm bị hiểu khác.
  3. So Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình. Khác nhau là tháng sinh bị hiểu khác, thường do tháng nhuận.
  4. So Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp. Khác nhau là giờ sinh bị quy đổi khác.
  5. Nếu bốn nhóm trên đều khớp mà chính tinh vẫn khác, kiểm ngày sinh âm lịch và quy ước Thổ cục, cục số.

Trình tự này đi từ dữ kiện ít khả năng sai tới dữ kiện dễ sai, nên thường chỉ sau hai, ba bước là ra nguyên nhân. Ghi lại kết quả cùng tên phần mềm giúp lần sau khỏi so lại từ đầu.

Dị bản trong từng nhóm: chỗ các phái an khác nhau

Tứ hoá can Canh. Bản phổ biến ở Việt Nam là Thái Dương hoá Lộc, Vũ Khúc hoá Quyền, Thái Âm hoá Khoa, Thiên Đồng hoá Kỵ. Có bản đổi chỗ hai sao cuối: Thiên Đồng hoá Khoa, Thái Âm hoá Kỵ. Người tuổi Canh vì thế có thể thấy hai lá số khác nhau ở đúng hai hoá này.

Tứ hoá can Nhâm. Thiên Lương hoá Lộc, Tử Vi hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Kỵ thì các bản khá thống nhất; riêng hoá Khoa có bản cho Tả Phù, có bản cho Thiên Phủ.

Thiên Khôi, Thiên Việt can Canh, Tân. Có bản cho can Canh dùng cặp Sửu – Mùi như Giáp, Mậu; có bản cho Canh cùng Tân ở Ngọ – Dần. Tuổi Canh, Tân nên kiểm xem lá số đang theo cách nào.

Hoả Tinh, Linh Tinh. Điểm khởi theo chi năm khá thống nhất, nhưng chiều đếm theo giờ có bản phân theo âm dương nam nữ, có bản cố định. Hai sao này vì thế hay lệch giữa các phần mềm.

Tháng nhuận. Ảnh hưởng tới mọi sao theo tháng và tới cung Mệnh, cung Thân, tuỳ quy ước tính như tháng trước hay chia đôi.

Hiểu cơ chế để giữ khoảng cách

Bảng phân nhóm cho thấy lá số được dựng hoàn toàn từ bốn dữ kiện lịch cộng giới tính, qua những phép đếm cung cố định. Không có thông tin nào khác về con người được đưa vào: không hoàn cảnh gia đình, không nơi lớn lên, không lựa chọn cá nhân. Hiểu như vậy giúp người đọc thấy rõ phạm vi của lá số: một khung biểu tượng gắn với thời điểm sinh.

Nhiều người thấy lá số "đúng" ở chỗ này chỗ kia, và đó là trải nghiệm có thật, nhưng có thể giải thích một phần bằng việc lời bình thường rộng nghĩa, ai đọc cũng thấy mình trong đó. Đọc lá số như một tấm gương văn hoá để tự hỏi là cách dùng lành mạnh; đọc như lời phán để quyết định chuyện học, chuyện làm, chuyện hôn nhân thì không nên.

Với người tự học, bảng phân nhóm là công cụ kỹ thuật hữu ích nhất: nhìn một sao là biết nó nói về năm, tháng, ngày hay giờ, và từ đó biết lời bình về sao ấy áp dụng cho riêng mình hay cho cả một lứa tuổi.

Câu hỏi thường gặp

Sinh tháng nhuận thì các sao theo tháng an thế nào?

Có hai quy ước phổ biến: tính tháng nhuận như tháng trước nó, hoặc chia đôi, nửa đầu tính theo tháng trước, nửa sau theo tháng sau. Các sao theo tháng như Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình sẽ khác nhau tuỳ quy ước, và cung Mệnh cũng có thể đổi theo.

Hai người cùng ngày giờ sinh nhưng khác năm có giống nhau không?

Chỉ giống phần không phụ thuộc năm, như vị trí cung Mệnh và các sao theo tháng, giờ. Can năm khác làm can cung khác, có thể đổi cục và đổi chính tinh. Các sao theo can chi năm như Lộc Tồn, Thiên Mã, tứ hoá cũng khác hoàn toàn.

Vì sao giờ sinh quan trọng hơn ngày sinh?

Giờ sinh đổi cung Mệnh, từ đó đổi cục, đổi chính tinh và đổi các sao theo giờ như Xương Khúc, Không Kiếp. Ngày sinh chỉ ảnh hưởng vị trí Tử Vi và vài phụ tinh. Vì vậy sai một canh giờ thường làm lá số khác nhiều hơn sai một ngày.

Sách tử vi theo tuổi in hằng năm có dùng giờ sinh không?

Phần lớn không. Loại sách ấy viết theo năm sinh và giới tính, nên chỉ phản ánh các sao chung của cả lứa tuổi. Những gì riêng của từng người nằm ở cung Mệnh, cục và các sao theo tháng, ngày, giờ, mà sách theo tuổi không thể biết.

Tuần thuộc nhóm theo can hay theo chi năm?

Tuần phụ thuộc cả can lẫn chi, vì nó xác định theo tuần giáp mà năm sinh thuộc vào. Năm Giáp Tý và năm Giáp Thìn cùng can nhưng khác tuần, nên Tuần ở hai vị trí khác nhau. Triệt thì chỉ phụ thuộc can năm.

Có sao nào không phụ thuộc ngày sinh không?

Có. Thiên La và Địa Võng luôn ở Thìn và Tuất trên mọi lá số. Thiên Thương, Thiên Sứ luôn ở cung Nô Bộc và Tật Ách, nên vị trí của chúng chỉ đổi theo cung Mệnh, không có quy tắc riêng theo ngày sinh.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.