Nam tuổi Ất Hợi sinh năm âm lịch 1995 (vòng trước 1935) mệnh nạp âm Sơn Đầu Hoả, là "âm nam" nên đại vận đi nghịch. Trên mọi lá số nam Ất Hợi: Lộc Tồn ở Mão, Kình Dương ở Thìn, Đà La ở Dần, Thiên Khôi ở Tý, Thiên Việt ở Thân, Thiên Mã ở Tỵ, Tuần ở Thân–Dậu, Triệt ở Ngọ–Mùi. Tứ hoá can Ất: Thiên Cơ hoá Lộc, Thiên Lương hoá Quyền, Tử Vi hoá Khoa, Thái Âm hoá Kỵ.
Người sinh năm 1995 năm nay khoảng ba mươi mốt tuổi âm, phần lớn đang ở đại vận thứ ba, và với âm nam thì vận thứ ba chính là cung Phu Thê. Đó là lý do lá số nam Ất Hợi hay được mang ra đọc đúng lúc bàn chuyện cưới hỏi, đổi việc. Bài trả lời các câu hỏi hay gặp nhất của độc giả tuổi này, theo thứ tự từ phần chắc chắn (theo năm) tới phần cần giờ sinh.
Nhắc nhanh: Tết năm 1995 là ngày 31 tháng 1 dương lịch; ai sinh trước ngày ấy thuộc tuổi Giáp Tuất.
Năm câu hỏi đầu tiên về lá số nam Ất Hợi
Vì sao gọi là âm nam? Can Ất là can âm (thứ hai trong mười can), giới tính nam. Âm nam và dương nữ đi đại vận nghịch, theo đúng thứ tự xếp cung Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức. Nữ Ất Hợi là âm nữ, đi thuận, nên vận của hai chị em sinh đôi khác giới đi hai chiều ngược nhau.
Sơn Đầu Hoả là gì? Là "lửa trên đầu núi", tên nạp âm của cặp Giáp Tuất và Ất Hợi. Tên nạp âm là ẩn dụ để ghép năm sinh vào ngũ hành, không phải lời tả tính cách. Hành Hoả của bản mệnh dùng để so với ngũ hành cục, một quan hệ có bài riêng trong mục Mệnh và cục.
Lộc Tồn ở Mão có tốt không? Lộc Tồn không có miếu hãm theo kiểu chính tinh; sách chủ yếu xem nó đứng ở cung gì và bị Kình Đà kẹp ra sao. Với Ất Hợi, Kình Dương ở Thìn đắc địa, Đà La ở Dần hãm địa, nên cặp kẹp Lộc có một bên "êm" một bên "gắt".
Thiên Mã ở Tỵ nghĩa là gì? Thiên Mã an theo chi năm; nhóm Hợi Mão Mùi có Mã ở Tỵ, ô đối diện chi năm. Với mọi tuổi Hợi, Mã luôn đứng ở cung xung chiếu với ô Thái Tuế, điều sách hay đọc thành "động" khi đi ra ngoài.
Mệnh chủ Cự Môn, Thân chủ Thiên Cơ là sao? Đây là hai ô nhỏ in ở đầu lá số. Thân chủ an theo chi năm, các phái thống nhất. Mệnh chủ thì lá số in ở Việt Nam thường lấy theo chi năm (Hợi được Cự Môn), còn sách Trung Hoa lấy theo chi của cung Mệnh, nên hai lá số có thể ghi khác nhau ở ô này.
Thiên Việt rơi vào Tuần, Thiên Khôi ở Tý gặp Đào Hoa
Hai sao quý nhân của can Ất nằm ở Tý (Thiên Khôi) và Thân (Thiên Việt). Tuần của tuổi Ất Hợi, theo con giáp tuần Giáp Tuất, ở Thân–Dậu, nên Thiên Việt bị Tuần che. Tuần được nhiều sách mô tả nhẹ hơn Triệt và "mở dần" về sau, nên lời đọc thường là quý nhân thuộc kiểu âm thầm, đến chậm, hoặc giúp qua người trung gian.
Ô Tý cùng lúc có Thiên Khôi và Đào Hoa (nhóm Hợi Mão Mùi có Đào Hoa ở Tý). Thêm nữa, Hồng Loan của tuổi Hợi ở Thìn, cùng ô với Kình Dương, còn Thiên Hỷ ở Tuất. Sách luận Khôi gặp Đào là người có duyên với đám đông, dễ được quý mến, thường nói về giao tế hơn là chuyện tình cảm riêng.
Cần nhớ rằng mọi người nam Ất Hợi đều có những vị trí này. Một chàng trai có ô Tý là Quan Lộc sẽ đọc Khôi–Đào theo hướng công việc gắn với giao tiếp, còn người có ô Tý là Tật Ách thì sách lại bàn theo hướng khác hẳn, và cung Tật Ách thì không ai nên dùng để đoán bệnh.
Tứ hoá can Ất trên lá số người nam
Can Ất là một trong những can ít tranh cãi về tứ hoá. Bảng tóm cách sách hay luận từng hoá và cách hiểu tỉnh táo hơn:
| Hoá | Sao | Sách xưa hay nói | Hiểu hôm nay |
|---|---|---|---|
| Lộc | Thiên Cơ | mưu trí sinh lợi | kiếm được từ suy nghĩ, kế hoạch, kỹ thuật |
| Quyền | Thiên Lương | uy thế của người che chở | vai trò người hướng dẫn, người giữ nguyên tắc |
| Khoa | Tử Vi | danh tiếng, được trọng | uy tín đến từ sự đứng đắn |
| Kỵ | Thái Âm | trắc trở với mẹ, vợ, nhà cửa | chỗ cảm xúc dễ vướng, cần chăm sóc đời sống riêng |
Thái Âm hoá Kỵ là chỗ sách cổ về nam mạng hay viết nặng, vì Thái Âm tượng trưng cho mẹ, vợ, nhà đất. Câu "khắc mẹ", "vợ yếu" là suy diễn biểu tượng của thời mà mọi điều trong gia đình đều quy về số phận. Thái Âm hoá Kỵ ở những cung sách cho là Thái Âm hãm (Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ) còn được coi là nặng hơn, nhưng vị trí cụ thể lại tuỳ ngày sinh.
Vận thứ ba ở Phu Thê: vì sao người 1995 hay tra lá số lúc này
Âm nam đi nghịch nên vận thứ ba rơi vào Phu Thê. Cục số của can Ất theo Mệnh: Tý, Sửu là Hoả lục cục; Dần, Mão, Tuất, Hợi là Thổ ngũ cục; Thìn, Tỵ là Kim tứ cục; Ngọ, Mùi là Mộc tam cục; Thân, Dậu là Thuỷ nhị cục. Vận Phu Thê do đó kéo dài từ khoảng hai mươi hai đến ba mươi lăm tuổi tuỳ cục, phủ đúng những năm người sinh 1995 đang sống.
Ví dụ giả định: một lá số nam Ất Hợi Mệnh ở Hợi, Thổ ngũ cục. Vận ba (25–34) ở Dậu, ô Phu Thê, nằm trong Tuần. Người đọc theo sách sẽ nói đây là mười năm chuyện tình cảm "chưa định hình rõ", hay đổi ý. Một lá số khác Mệnh ở Dần thì Phu Thê ở Tý, có Thiên Khôi và Đào Hoa, lời sách lại thành "dễ gặp người hợp".
Hai lời ấy nghe như hai số phận, nhưng chúng chỉ là hai cách sắp xếp biểu tượng. Quyết định cưới ai, khi nào, ở đâu vẫn là chuyện của hai người trưởng thành; không nên hoãn hay vội một đám cưới chỉ vì một ô trên lá số. Muốn ôn lại khái niệm đại vận, tiểu hạn từ đầu, loạt bài nhập môn ở trungtamtuvi.com trình bày khá đầy đủ.
Lời sách phổ thông về nam Ất Hợi và cách gỡ
Các cuốn sách nhỏ theo tuổi hay dành cho nam mạng một mục "tình duyên" chia theo tháng sinh âm lịch: sinh tháng này thì "ba lần thay đổi", tháng kia thì "hai lần", tháng nọ thì "một vợ một chồng". Mỗi bản in chia nhóm tháng khác nhau, và không bản nào nêu được căn cứ trên lá số cho cách chia ấy.
Với người trẻ, kiểu câu này dễ gây nặng lòng hơn là giúp ích. Một cách gỡ là hỏi ngược: câu này dựa vào sao nào, ô nào? Nếu không trả lời được, đó là lời truyền khẩu, đáng giữ như một mẩu văn hoá nhưng không đáng để dựa vào khi quyết định chuyện lớn.
Cũng các cuốn ấy thường có mục "tuổi hợp làm ăn" và "tuổi kỵ". Trong đời thực, người cộng sự tốt là người có năng lực bổ sung, giữ chữ tín và cùng mục tiêu. Năm sinh của họ là thông tin ít giá trị nhất trong danh sách đó.
Phần lá số nam Ất Hợi phải có giờ sinh mới đọc được
Bộ khung theo năm ở trên chỉ chiếm chừng một phần ba lượng sao trên lá số. Phần còn lại cần ngày giờ: cung Mệnh và Thân, cục số, mười bốn chính tinh, Văn Xương–Văn Khúc, Tả Phù–Hữu Bật, Địa Không–Địa Kiếp, Hoả Tinh–Linh Tinh, vòng Tràng Sinh và vị trí cụ thể của bốn sao hoá.
Người sinh năm 1995 thường có giấy khai sinh ghi giờ, nhưng giờ ghi có thể là giờ làm thủ tục, không phải giờ sinh thật. Nếu nghi ngờ, nên hỏi lại cha mẹ hoặc hồ sơ bệnh viện. Sinh sát ranh giới giữa hai giờ âm lịch thì lập cả hai lá số để biết những ô nào đổi.
Ngay cả khi có giờ chính xác, lá số vẫn là công cụ đọc biểu tượng. Nó gợi ra câu hỏi về điểm mạnh, điểm cần rèn; phần trả lời thuộc về cách mỗi người sống, học và làm việc.
Vòng Bác Sĩ và vòng Thái Tuế trên lá số nam Ất Hợi
Hai vòng mười hai sao này đều an theo năm. Vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn ở Mão và đi nghịch vì là âm nam; vòng Thái Tuế khởi từ chi năm Hợi và luôn đi thuận, không phân nam nữ:
| Thứ tự | Vòng Bác Sĩ | Vòng Thái Tuế |
|---|---|---|
| 1 | Bác Sĩ ở Mão | Thái Tuế ở Hợi |
| 2 | Lực Sĩ ở Dần | Thiếu Dương ở Tý |
| 3 | Thanh Long ở Sửu | Tang Môn ở Sửu |
| 4 | Tiểu Hao ở Tý | Thiếu Âm ở Dần |
| 5 | Tướng Quân ở Hợi | Quan Phù ở Mão |
| 6 | Tấu Thư ở Tuất | Tử Phù ở Thìn |
| 7 | Phi Liêm ở Dậu | Tuế Phá ở Tỵ |
| 8 | Hỷ Thần ở Thân | Long Đức ở Ngọ |
| 9 | Bệnh Phù ở Mùi | Bạch Hổ ở Mùi |
| 10 | Đại Hao ở Ngọ | Phúc Đức ở Thân |
| 11 | Phục Binh ở Tỵ | Điếu Khách ở Dậu |
| 12 | Quan Phủ ở Thìn | Trực Phù ở Tuất |
Có vài ô đáng nhìn kỹ. Ô Hợi vừa là Thái Tuế vừa có Tướng Quân, ô Tỵ có Tuế Phá đi cùng Thiên Mã và Phục Binh, ô Mão có Lộc Tồn, Bác Sĩ và Quan Phù. Sách xưa đọc Thái Tuế đi với Tướng Quân là người có chính kiến và dám đứng ra; đọc hôm nay đó là một mô tả về sự chủ động, đúng hay không phải tự kiểm qua việc mình làm.
Mệnh Sơn Đầu Hoả gặp từng loại cục
Bản mệnh hành Hoả của nam Ất Hợi được sách đem so với ngũ hành cục, vốn tuỳ vị trí cung Mệnh. Với can Ất, năm khả năng như sau:
| Mệnh ở | Cục | Quan hệ với mệnh Hoả |
|---|---|---|
| Ngọ, Mùi | Mộc tam cục | cục sinh mệnh |
| Dần, Mão, Tuất, Hợi | Thổ ngũ cục | mệnh sinh cục |
| Thìn, Tỵ | Kim tứ cục | mệnh khắc cục |
| Thân, Dậu | Thuỷ nhị cục | cục khắc mệnh |
| Tý, Sửu | Hoả lục cục | đồng hành |
Sách xưa coi cục sinh mệnh là thuận nhất, cục khắc mệnh là phải gắng sức nhiều. Mục "Mệnh, cục, âm dương" của trang có bài riêng cho từng quan hệ; ở đây chỉ cần biết quan hệ này cũng phải có giờ sinh mới xác định, và nó là một yếu tố phụ trong toàn lá số, không phải lời kết luận.
Ví dụ giả định: một lá số nam Ất Hợi có Mệnh ở Hợi, đúng ô chi năm. Can cung Hợi với tuổi Ất là Đinh, Đinh Hợi có nạp âm Ốc Thượng Thổ, nên cục là Thổ ngũ cục, mệnh Hoả sinh cục Thổ. Sách xưa đọc mệnh sinh cục là người hay cho đi, dồn sức cho việc chung. Một lá số khác Mệnh ở Dậu, can cung là Ất Dậu, nạp âm Tuyền Trung Thuỷ, thành Thuỷ nhị cục khắc mệnh Hoả, lời sách lại thành phải tự vượt nhiều trở ngại.
Câu hỏi thường gặp
Nam sinh tháng 1 năm 1995 có phải tuổi Ất Hợi?
Chưa chắc. Tết Ất Hợi rơi vào ngày 31 tháng 1 năm 1995, nên sinh trước ngày đó là tuổi Giáp Tuất, mệnh Sơn Đầu Hoả giống nhau nhưng là dương nam, đi vận thuận và có bộ sao theo năm khác hẳn.
Nam Ất Hợi và nam Tân Hợi có gì giống nhau trên lá số?
Giống các sao an theo chi năm: Thiên Mã ở Tỵ, Đào Hoa ở Tý, Hồng Loan ở Thìn, Cô Thần ở Dần, vòng Thái Tuế. Khác các sao theo can: Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Triệt và tứ hoá.
Thái Âm hoá Kỵ có ảnh hưởng tới mẹ hay vợ không?
Đó là suy diễn biểu tượng của sách cũ, vì Thái Âm tượng trưng cho người phụ nữ trong nhà. Không có căn cứ để nói một sao hoá làm ảnh hưởng tới sức khoẻ hay hạnh phúc của người thân; đọc như lời nhắc quan tâm đời sống gia đình là đủ.
Đại vận Phu Thê có phải lúc nên cưới?
Không phải. Vận Phu Thê chỉ là mười năm sách xưa đọc chuyện vợ chồng nhiều hơn. Quyết định kết hôn thuộc về sự sẵn sàng của hai người, hoàn cảnh kinh tế, gia đình. Không nên hoãn hay vội vì một ô trên lá số.
Thiên Việt gặp Tuần là mất quý nhân?
Không. Tuần được nhiều phái coi là che bớt, mở dần theo tuổi, không xoá sao. Lời đọc thường gặp là sự giúp đỡ đến chậm hoặc qua trung gian. Đó là gợi ý nên chủ động xây quan hệ, không phải lời khẳng định về vận may.
Mệnh chủ Cự Môn có nghĩa là tính hay cãi?
Không nên suy như vậy. Mệnh chủ là sao "chủ" gán cho chi năm hoặc chi cung Mệnh tuỳ phái, dùng bổ trợ khi luận tính cách. Bản thân Cự Môn còn có mặt tích cực là sắc sảo, giỏi phân tích; một ô nhỏ không đủ để kết luận về ai.