ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Lá số tuổi Canh Tuất nam mạng: vận đi thuận, Lộc Mã ở Thân, Cô Thần ở Hợi

Nam Canh Tuất (1970, 2030) là dương nam, đại vận đi thuận từ Mệnh sang Phụ Mẫu; Lộc Tồn và Thiên Mã cùng ở Thân, Cô Thần ở Hợi, Triệt ở Ngọ–Mùi.

A Vietnamese man in his fifties seen from behind on a wooden veranda at dusk, an old bound volume resting on his knee, rice fields and a dark indigo sky beyond

Người nam tuổi Canh Tuất sinh năm âm lịch 1970 (vòng trước 1910, vòng sau 2030) là "dương nam": can Canh thuộc dương, giới nam, nên đại vận đi thuận chiều, từ cung Mệnh sang Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch rồi mới tới Quan Lộc. Bộ sao cố định theo năm của mọi lá số nam Canh Tuất: Lộc Tồn và Thiên Mã cùng ở Thân, Kình Dương ở Dậu, Đà La ở Mùi, Tuần ở Dần–Mão, Triệt ở Ngọ–Mùi, Cô Thần ở Hợi, Quả Tú ở Mùi.

Điểm khác căn bản giữa lá số anh và chị cùng năm 1970 không nằm ở chính tinh, mà nằm ở chiều đi của vận và các vòng sao phụ thuộc chiều âm dương. Bài này trình bày bộ khung theo năm của người nam, giải thích vì sao thứ tự đại vận thuận làm cho "câu chuyện" của lá số dương nam diễn ra theo một nhịp khác hẳn, và gỡ vài lời sách phổ thông về nam mạng tuổi này.

Trước khi đọc tiếp, nên chắc rằng mình đúng là tuổi Canh Tuất: Tết năm 1970 rơi vào ngày 6 tháng 2 dương lịch, người sinh trước ngày đó vẫn thuộc năm Kỷ Dậu.

Bộ khung sao theo năm của nam Canh Tuất

Những vị trí sau đây không cần giờ sinh, nên mọi lá số nam Canh Tuất đều giống nhau ở các ô này. Cột ghi chú nói rõ chỗ các nguồn chép lệch.

MụcVị tríGhi chú
Nạp âmThoa Xuyến Kimchung cặp với Tân Hợi
Âm dương – chiều vậndương nam – thuậnngược với nữ cùng tuổi
Lộc Tồn, Thiên Mãcùng ở ThânLộc theo can Canh, Mã theo chi Tuất
Kình Dương / Đà LaDậu (hãm) / Mùi (đắc)luôn kẹp hai bên Lộc Tồn
Thiên Khôi / Thiên ViệtSửu / Mùidị bản: Ngọ / Dần
Tuần / TriệtDần–Mão / Ngọ–MùiĐà La và Thiên Việt nằm trong Triệt
Cô Thần / Quả TúHợi / Mùinhóm chi Thân Dậu Tuất
Hồng Loan / Thiên HỷTỵ / HợiThiên Hỷ cùng ô với Cô Thần
Mệnh chủ / Thân chủLộc Tồn / Văn Xươngtheo chi năm, cách lá số in ở Việt Nam hay dùng

Có hai chồng lớp đáng để ý. Thứ nhất, ô Mùi gánh tới ba thứ: Đà La, Thiên Việt (theo bản phổ biến) và Triệt, lại thêm Quả Tú. Thứ hai, ô Hợi vừa có Cô Thần vừa có Thiên Hỷ, một sao cô lẻ đứng cạnh một sao vui mừng. Cách đọc hai ô này phụ thuộc chúng là cung gì trên lá số từng người, không thể chốt chỉ từ năm sinh.

Dương nam đi vận thuận: thứ tự mười hai đại vận khác hẳn lá số nữ

Trên lá số, mười hai cung xếp ngược chiều kim đồng hồ từ Mệnh: Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức, Phụ Mẫu. Dương nam đi đại vận theo chiều thuận, tức là đi theo thứ tự ngược với thứ tự xếp cung: sau Mệnh là Phụ Mẫu, rồi Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di.

Hệ quả là cung Phu Thê của dương nam rơi vào đại vận thứ mười một, tức là lúc đã ngoài một trăm tuổi nếu tính theo số học, nghĩa là trong đời thực vận ở Phu Thê gần như không đến. Ngược lại, vận thứ năm, khoảng bốn mươi đến năm mươi lăm tuổi tuỳ cục, đi vào Quan Lộc. Với nữ Canh Tuất (dương nữ, đi nghịch), vận thứ ba đã vào Phu Thê ở tuổi hai mươi mấy.

Sách xưa vì vậy hay nói lá số dương nam "đọc công danh ở trung niên", còn lá số âm nam đọc chuyện vợ con sớm hơn. Câu này chỉ mô tả thứ tự cung trên giấy. Chuyện hôn nhân của người nam vẫn được xem ở cung Phu Thê gốc và các sao hội chiếu, chỉ là nó không được "kích hoạt" bằng một đại vận riêng.

Cục số và tuổi khởi vận với can Canh

Cục số do can năm và vị trí cung Mệnh quyết định; số cục cũng là tuổi bắt đầu đại vận đầu tiên. Với tuổi Canh, mười hai vị trí Mệnh chia ra như sau:

Mệnh ởCụcVận đầu từVận Quan Lộc (thứ năm)
Thân, DậuThuỷ nhị cục2 tuổi42–51
Ngọ, MùiMộc tam cục3 tuổi43–52
Thìn, TỵKim tứ cục4 tuổi44–53
Dần, Mão, Tuất, HợiThổ ngũ cục5 tuổi45–54
Tý, SửuHoả lục cục6 tuổi46–55

Ví dụ giả định: một lá số nam Canh Tuất có Mệnh ở Thân. Lộc Tồn và Thiên Mã toạ ngay Mệnh, cục là Thuỷ nhị cục, vận đầu từ hai tuổi. Vận thứ ba (22–31) đi qua Phúc Đức ở Tuất, vận thứ năm (42–51) vào Quan Lộc ở Tý. Một lá số khác có Mệnh ở Thìn thì Thân lại là Quan Lộc, và vận thứ năm của người này (Kim tứ cục, 44–53) đi đúng vào ô có Lộc Mã. Cùng năm sinh, hai câu chuyện khác nhau hoàn toàn.

Lộc Tồn cùng Thiên Mã ở Thân, nhưng Đà La và Thiên Việt bị Triệt

Lộc Mã đồng cung là cách được nhiều sách khen: tích luỹ đi cùng dịch chuyển. Với mọi người tuổi Canh Tuất, cặp này luôn ở Thân và không bị Tuần hay Triệt chạm tới, đó là một điểm "sạch" của năm sinh này. Cái cần xem thêm là hai sao kẹp Lộc Tồn: Kình Dương ở Dậu hãm địa và Đà La ở Mùi đắc địa nhưng nằm trong Triệt.

Sách chia hai cách hiểu về Triệt. Một phái coi Triệt như lưỡi dao cắt mạnh ở nửa đầu đời, cắt cả tốt lẫn xấu của sao trong ô, càng về sau càng nhẹ. Phái khác cho rằng Triệt chủ yếu tác động lên chính tinh, còn với phụ tinh như Đà La hay Thiên Việt thì chỉ làm "chậm" chứ không xoá. Người đọc nên chọn một cách và giữ nhất quán thay vì chọn cách nào nghe dễ chịu hơn ở từng ô.

Thiên Việt là một trong hai sao quý nhân. Với bản phổ biến (Khôi Sửu, Việt Mùi), Thiên Việt rơi vào Triệt; với dị bản (Khôi Ngọ, Việt Dần), Thiên Khôi lại ở Ngọ trong Triệt còn Thiên Việt ở Dần trong Tuần. Như vậy theo bản nào thì một trong hai quý nhân của nam Canh Tuất cũng chạm "không vong". Sách cũ hay đọc chỗ này thành "quý nhân đến muộn", một lời có thể giữ lại như gợi ý về sự chủ động, không như lời phán.

Cô Thần ở Hợi và chữ "khắc vợ" trong sách phổ thông

Dân gian có câu "nam sợ Cô Thần, nữ sợ Quả Tú". Với tuổi Canh Tuất, Cô Thần ở Hợi, Quả Tú ở Mùi. Khi Cô Thần rơi vào Mệnh hoặc Phu Thê của người nam, các cuốn sách phổ thông xưa thường thêm những câu như "muộn vợ", "khắc vợ", "vợ chồng xa cách". Lời đó ra đời trong một xã hội coi việc người đàn ông lập gia đình sớm, có con nối dõi là bổn phận, nên bất cứ dấu hiệu nào của sự độc lập, thích ở một mình đều bị diễn thành rủi ro gia đạo.

Đọc hôm nay, Cô Thần là sao của khoảng riêng: người cần thời gian một mình để nghĩ, dễ tự lo hơn là nhờ vả, đôi khi khó mở lòng. Đặt cạnh Thiên Hỷ cùng ô Hợi, bức tranh còn mềm hơn: một người kín đáo nhưng có những niềm vui riêng. Không có sao nào quyết định một cuộc hôn nhân; hai con người, cách họ nói chuyện với nhau và hoàn cảnh sống mới là thứ quyết định.

Lá số, suy cho cùng, là một bộ biểu tượng cổ giúp người đọc tự đặt câu hỏi về mình. Nó không thay được cuộc trò chuyện thật với người bạn đời hay lời khuyên của người có chuyên môn khi gặp chuyện khó.

Tứ hoá theo can Canh, nhìn từ lá số nam

Tứ hoá đi theo sao, nên ô cụ thể cần giờ sinh. Cái cố định là sao nào được hoá; can Canh có nhiều dị bản nhất:

  • Thái Dương hoá Lộc — các phái thống nhất. Trong lá số nam, Thái Dương còn được đọc như hình ảnh người cha và chính bản thân người đàn ông, nên sách hay khen khi Thái Dương hoá Lộc đóng cung sáng (từ Dần đến Ngọ).
  • Vũ Khúc hoá Quyền — thống nhất. Vũ Khúc là sao tài và sao quyết đoán; thêm Quyền thì lời sách nghiêng về người nắm việc tiền nong, quản lý.
  • Thái Âm hoá Khoa theo phần lớn lá số in ở Việt Nam; có phái ghi Thiên Đồng, có phái ghi Thiên Phủ.
  • Thiên Đồng hoá Kỵ theo bản phổ biến; phái ghi Khoa Thiên Đồng thì đặt Kỵ ở Thái Âm, một số bản ghi Thiên Tướng.
  • Điều nên làm: nếu lá số có Thái Âm hay Thiên Đồng ở Mệnh, Quan Lộc hoặc Tài Bạch, hãy lập lá số ở hai nguồn và ghi rõ nguồn nào theo bản nào trước khi đọc.

Muốn xem năm 1970 mệnh gì, hợp màu nào, hướng nào theo quan niệm dân gian, có thể đọc thêm ở tuviphongthuy.com; bài ở đây chỉ bàn phần lá số.

Cái gì cần giờ sinh, và nên đọc bộ khung này đến đâu

Bộ khung theo năm giống nhau cho mọi nam Canh Tuất, nên nó chỉ nói được những điều rất chung. Cung Mệnh, cung Thân (từ tháng và giờ), cục số, mười bốn chính tinh (từ ngày sinh và cục), Văn Xương–Văn Khúc, Địa Không–Địa Kiếp (theo giờ), Tả Phù–Hữu Bật (theo tháng), Hoả Tinh–Linh Tinh (chi năm và giờ, chiều an còn tuỳ âm dương nam nữ) đều phải có ngày giờ.

Vì vậy câu "nam Canh Tuất số vất vả lúc trẻ, trung niên khá" trong các cuốn sách nhỏ bán dịp Tết là lớp đọc thô nhất, áp chung cho hàng trăm nghìn người. Nó có giá trị như một nét văn hoá, nhưng không phải lời mô tả riêng ai.

Một cách dùng tỉnh táo là đọc lá số như bản đồ câu hỏi: ô nào có Lộc Mã thì tự hỏi mình có đang dùng tốt sự linh hoạt, ô nào có Kình Dương hãm thì tự hỏi mình xử lý va chạm ra sao. Câu trả lời nằm ở việc làm thật, không nằm trên giấy.

Câu hỏi thường gặp

Nam sinh năm 1970 là dương nam hay âm nam?

Là dương nam nếu sinh sau Tết Canh Tuất, tức sau ngày 6 tháng 2 năm 1970. Can Canh thuộc dương, nên người nam tuổi này đi đại vận thuận. Sinh trước Tết thì thuộc Kỷ Dậu, là âm nam và đi vận nghịch.

Vì sao lá số dương nam ít khi đọc đại vận ở cung Phu Thê?

Vì đi thuận thì Phu Thê là cung thứ mười một tính từ Mệnh, đại vận tới đó khi đã quá trăm tuổi. Chuyện vợ chồng của dương nam vẫn được xem ở cung Phu Thê gốc và các sao chiếu về, chỉ không có một vận mười năm riêng.

Lộc Mã đồng cung ở Thân có nghĩa nam Canh Tuất nào cũng làm ăn xa?

Không. Mọi người tuổi Canh Tuất đều có Lộc Mã ở Thân, nên ý nghĩa riêng tuỳ cung Thân là cung gì trên lá số từng người. Ở Mệnh hay Thiên Di thì sách bàn nhiều về dịch chuyển; ở Nô Bộc thì lại nói về bạn bè, cộng sự.

Cô Thần ở Hợi có làm khó lập gia đình không?

Đó là lời sách cũ trong bối cảnh lập gia đình sớm là bổn phận. Cô Thần chỉ mô tả nhu cầu khoảng riêng, tính kín đáo. Hôn nhân phụ thuộc hai người và hoàn cảnh thật; không nên dùng một sao phụ để quyết định chuyện lớn.

Tại sao hai nguồn lập lá số cho tứ hoá can Canh khác nhau?

Vì các phái chép Hoá Khoa và Hoá Kỵ của can Canh khác nhau: Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Phủ hay Thiên Tướng tuỳ sách. Đây là dị bản có từ lâu trong truyền thống đẩu số, không phải lỗi phần mềm hay lỗi in.

Nam Canh Tuất không biết giờ sinh thì đọc được gì?

Đọc được bộ khung theo năm: nạp âm, chiều vận, Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Thiên Mã, Tuần Triệt, Cô Quả, Hồng Hỷ và tứ hoá theo can. Mệnh ở đâu, chính tinh gì, cục số mấy thì phải có giờ mới biết.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.