ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nữ mạng

Lá số tuổi Mậu Tý nữ mạng: Tích Lịch Hoả, Thái Tuế bị Triệt và ô Ngọ dồn bốn sao

Nữ Mậu Tý (1948, 2008) mệnh Tích Lịch Hoả, dương nữ đi vận nghịch; ô Tý của năm sinh nằm trong Triệt, ô Ngọ gom Kình Dương, Khốc, Hư trong Tuần, Tham Lang hoá Lộc.

A grandmother and her teenage granddaughter seen from behind sitting on a wooden porch step watching a summer thunderstorm roll over rice fields, dramatic grey sky

Năm Mậu Tý lặp lại hai lần trong một gia đình nhiều thế hệ: bà sinh năm 1948, cháu gái sinh năm 2008. Khi cả hai cùng có lá số, điều đầu tiên người ta nhận ra là phần sao theo năm của hai bà cháu giống hệt nhau, chỉ khác phần theo tháng, ngày, giờ.

Nữ Mậu Tý mang nạp âm Tích Lịch Hoả, lửa sấm sét. Can Mậu là dương nên đây là dương nữ, đại vận đi nghịch. Sao theo năm: Lộc Tồn ở Tỵ, Kình Dương ở Ngọ, Đà La ở Thìn; Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi; Thiên Mã ở Dần; Tuần ở Ngọ–Mùi, Triệt ở Tý–Sửu. Tứ hoá can Mậu theo bảng phổ biến: Tham Lang hoá Lộc, Thái Âm hoá Quyền, Hữu Bật hoá Khoa, Thiên Cơ hoá Kỵ. Điểm nhấn của tuổi này là chính ô Tý của năm sinh bị Triệt, còn ô Ngọ đối diện gom tới bốn sao nặng nghĩa trong Tuần.

Ô Tý của năm sinh nằm sau vạch Triệt

Thái Tuế luôn đứng ở ô mang chi năm sinh, với tuổi Tý là ô Tý. Triệt của can Mậu chắn Tý–Sửu. Vậy nữ Mậu Tý có Thái Tuế bị Triệt, và Thiên Khôi ở Sửu ngay cạnh cũng bị chắn. Ngoài ra ô Tý còn có Tấu Thư của vòng Bác Sĩ, một sao nhẹ thường được đọc là chuyện văn thư, lời tâu bày.

Sách đọc Thái Tuế là lời nói, lập trường, khả năng đứng ra trước đám đông. Bị Triệt thì các bản cũ tả là "nói ít người nghe", "lời mình hay bị gác lại", hoặc ngược lại là biết giữ mồm giữ miệng, tránh được thị phi. Hai cách đọc cùng tồn tại, cho thấy một chi tiết trên lá số có thể bị kéo về phía nào cũng được.

Ví dụ giả định: một bé gái sinh năm 2008, Mệnh tại Tý, Kim tứ cục. Mệnh có Thái Tuế, Tấu Thư trong Triệt; cung Phụ Mẫu ở Sửu có Thiên Khôi cũng trong Triệt. Mười hai cung luôn an theo một chiều cố định, chỉ đại vận của dương nữ mới đi lùi. Sách sẽ tả một người kín đáo, nghĩ nhiều nói ít. Với một học sinh mười mấy tuổi, mô tả ấy chỉ nên coi là chuyện để trò chuyện, không nên thành cái nhãn gắn lên con.

Cần phân biệt Triệt ở ô Thái Tuế với chuyện "năm tuổi" mà lịch dân gian hay nhắc. Thái Tuế trên lá số là một sao an cố định theo năm sinh, ở đây chỉ bàn vị trí của nó trong mười hai ô. Còn việc năm nào trùng tuổi, năm nào xung tuổi là một hệ quan niệm khác, không thuộc phạm vi đọc lá số gốc của bài này.

Ô Ngọ và các ô "nặng" của nữ Mậu Tý

Bảng liệt kê những ô có từ ba sao theo năm trở lên, cùng tình trạng Tuần Triệt:

ÔSao theo nămTuần / Triệt
NgọKình Dương, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tuế Phá, Quan PhủTuần
TỵLộc Tồn, Bác Sĩ, Tử Phùkhông
ThìnĐà La, Lực Sĩ, Quan Phù, Hoa Cái, Long Trìkhông
DầnThiên Mã, Tiểu Hao, Tang Môn, Cô Thầnkhông
DậuThiên Hỷ, Đào Hoa, Bệnh Phù, Phúc Đứckhông
TuấtPhượng Các, Quả Tú, Hỷ Thần, Điếu Kháchkhông
MãoHồng Loan, Thanh Long, Thiếu Âmkhông

Ô Ngọ gom Kình Dương cùng cặp Khốc Hư (tuổi Tý có Khốc và Hư cùng ở Ngọ, chỉ tuổi Tý và tuổi Ngọ mới chung ô) và Tuế Phá, Quan Phủ. Nghe toàn sao "nặng", nhưng cả ô nằm trong Tuần, nên phần đông các phái luận là dịu đi nhiều.

Ô Dậu có Thiên Hỷ và Đào Hoa, ô Mão đối diện có Hồng Loan: trục Mão–Dậu là trục "duyên" của tuổi Mậu Tý, và cả hai đầu đều sạch Tuần Triệt.

Kình Dương ở Ngọ với can Mậu: cách có tên và vì sao nên đọc nhẹ

Kình Dương ở Ngọ chỉ có ở tuổi Bính và tuổi Mậu. Khi sao này thủ Mệnh, sách gọi tên một cách cục với hình ảnh đầu ngựa mang binh khí, tượng uy dũng. Điều kiện đi kèm khá chặt: cần sao tốt đỡ, không gặp thêm sát tinh. Với nữ Mậu Tý, ô Ngọ có Tuần nên nhiều người nghiên cứu xếp cách này vào loại "thành mà không trọn".

Ô Ngọ còn có Thiên Khốc, Thiên Hư. Sách cũ có câu khen "Khốc Hư Tý Ngọ" là đắc địa, tượng người có chí, biết lo việc lớn. Đây là một ví dụ thú vị về cách đọc hai mặt: cùng hai sao bị coi là buồn, đặt đúng chỗ lại được khen. Với tuổi Tý và tuổi Ngọ, Khốc Hư luôn đóng ở Ngọ hoặc Tý, nên ai tuổi này cũng có ít nhất một đầu "đắc".

Đọc cho tỉnh táo: một ô có nhiều sao nặng nghĩa không phải là "ô xấu". Nó cho biết cung nào trên lá số sẽ được sách nói nhiều nhất. Với người cầm lá số, việc của mình là xem ô Ngọ rơi vào cung gì: nếu là Quan Lộc thì sách bàn chuyện nghề, nếu là Tật Ách thì nên dừng ở mức đọc văn hoá, không suy ra bệnh, và giữ nếp khám sức khoẻ định kỳ như mọi người.

So với nữ Bính Tuất cũng có Kình Dương ở Ngọ trong Tuần, nữ Mậu Tý khác ở hai chỗ: Lộc Tồn ở Tỵ không bị Triệt (Triệt của can Mậu nằm ở Tý–Sửu), và ô Ngọ của tuổi Tý còn chứa Tuế Phá, tức ô đối xung với năm sinh. Sách gọi ô Tuế Phá là nơi lời nói và lập trường dễ va chạm; gặp Tuần thì va chạm được làm mềm. Hai tuổi cùng một sao ở cùng một ô mà bức tranh quanh nó đã khác, đủ thấy không nên đọc một sao tách khỏi những sao bên cạnh.

Tứ hoá can Mậu và dị bản ở chữ Khoa

Tham Lang hoá Lộc. Tham Lang là sao của ham muốn, giao tế, tài lẻ. Được Lộc, sách tả người nhiều sở thích, có lợi từ quan hệ rộng. Tham Lang còn là mệnh chủ của người có Mệnh ở Tý theo bảng tra chi cung Mệnh.

Thái Âm hoá Quyền. Thái Âm được thêm sức chủ động. Sách nữ mệnh cũ coi đây là hình ảnh người phụ nữ nắm việc nhà, việc tiền. Hôm nay đọc rộng hơn: khả năng quản lý, sắp xếp.

Hữu Bật hoá Khoa, hay Thái Dương? Bảng phổ biến ở Việt Nam cho can Mậu hoá Khoa vào Hữu Bật. Một số phái lại cho Thái Dương hoá Khoa. Hai lá số in từ hai nguồn có thể lệch chữ Khoa ở chỗ này; người đọc nên biết mình đang dùng bảng nào trước khi so sánh.

Thiên Cơ hoá Kỵ. Thiên Cơ là sao mưu tính. Hoá Kỵ được sách luận là nghĩ nhiều, tính đi tính lại, có khi lỡ việc vì do dự. Lời nhắc hữu ích: đặt hạn cho việc cân nhắc, không phải tránh suy nghĩ.

Đại vận nghịch, cục theo Mệnh và chuyện hai thế hệ

Can Mậu dùng chung bảng cục với can Quý: Mệnh ở Tý, Sửu là Kim tứ cục; Dần, Mão, Tuất, Hợi là Thuỷ nhị cục; Thìn, Tỵ là Thổ ngũ cục; Ngọ, Mùi là Hoả lục cục; Thân, Dậu là Mộc tam cục. Với bản mệnh Tích Lịch Hoả: Hoả lục cục là đồng hành, Mộc tam cục sinh mệnh, Thổ ngũ cục do mệnh sinh, Kim tứ cục bị mệnh khắc, Thuỷ nhị cục khắc mệnh.

Dương nữ đi nghịch: từ Mệnh lùi sang Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức. Ví dụ giả định: Mệnh tại Thân, Mộc tam cục, vận đầu 3–12 ở Thân, vận hai 13–22 ở Mùi có Thiên Việt trong Tuần, vận ba 23–32 ở Ngọ có Kình Dương và Khốc Hư trong Tuần, vận bốn 33–42 ở Tỵ có Lộc Tồn. Sách sẽ dựng câu chuyện "trẻ chậm, trung niên mở". Câu chuyện ấy đẹp, nhưng nó là một cách xếp biểu tượng, không phải điều kiện để ai phải chờ.

Bà sinh năm 1948 và cháu sinh năm 2008 đọc cùng những dòng sách về tuổi Mậu Tý. Đời bà đi qua chiến tranh, bao cấp, đổi mới; đời cháu lớn lên với điện thoại và lớp học trực tuyến. Cùng bộ sao mà hai đời người khác nhau đến vậy là lời nhắc rõ nhất rằng lá số chỉ là khung ký hiệu để suy ngẫm, còn quyết định học gì, làm gì nằm ở hoàn cảnh thật.

Thiên Mã ở Dần cùng Cô Thần, Tang Môn: ô "đi xa" của tuổi Mậu Tý

Chi Tý thuộc nhóm Thân–Tý–Thìn nên Thiên Mã an ở Dần. Cô Thần của nhóm Hợi–Tý–Sửu cũng ở Dần, Tang Môn của vòng Thái Tuế (Thái Tuế cộng hai) cũng ở Dần, thêm Tiểu Hao của vòng Bác Sĩ. Ô Dần của nữ Mậu Tý vì vậy gom bốn sao, không bị Tuần Triệt, và Thiên Mã ở Dần là vị trí sáng của sao này.

Sách cổ ghép Thiên Mã với Cô Thần thành hình ảnh người đi một mình, tự lo liệu ở nơi mới; Tang Môn đi kèm làm giọng văn trầm. Có bản nữ mệnh cũ dùng tổ hợp này để nói "xa quê", "ít nương tựa". Đặt vào đời sống hôm nay, đó là chân dung khá quen của người rời quê đi học, đi làm, phải tự dựng nếp sống riêng. Không có gì trong tổ hợp ấy là lời báo buồn.

Ô Thân đối diện có Bạch Hổ và Đại Hao; trục Dần–Thân là trục dịch chuyển của tuổi này. Lá số có Mệnh ở Dần sẽ được sách tả là năng động; Mệnh ở Thân thì Mã chiếu từ Thiên Di sang, hình ảnh "cơ hội đến từ bên ngoài". Mệnh ở Ngọ hay Tuất thì Dần nằm trong tam hợp, Mã vẫn chiếu về.

Người cầm lá số Mậu Tý sinh năm 2008 đang ở tuổi chọn trường. Đọc ô Dần như một câu chuyện văn hoá thì thú vị; còn chọn học gần hay xa nhà vẫn phải dựa trên ngành học, học phí, sức khoẻ và mong muốn của chính em ấy.

Sách phổ thông, phần cần giờ sinh và cách tự kiểm

Sách Thái Ất phổ thông thường tả nữ Mậu Tý là "nhanh nhẹn, tháo vát, nói thẳng, tình cảm có lúc trắc trở, có tài quán xuyến". Những câu như vậy dùng chung cho nhiều tuổi dương nữ trong cùng cuốn, đọc như tư liệu là đủ. Với bé gái sinh năm 2008, cha mẹ có thể đọc cho biết, nhưng không nên lấy đó làm khuôn để kỳ vọng hay lo lắng.

Cần giờ sinh mới biết cung Mệnh, cung Thân, mười bốn chính tinh, chỗ của Tham Lang hoá Lộc và Thiên Cơ hoá Kỵ, Xương Khúc, Tả Hữu (trong đó Hữu Bật mang chữ Khoa theo bảng phổ biến), Không Kiếp, Hoả Linh. Nhóm tuổi Thân–Tý–Thìn có Hoả Tinh khởi ở Dần, Linh Tinh khởi ở Tuất theo cách an thông dụng.

Tự kiểm lá số nữ Mậu Tý: ô Tỵ có Lộc Tồn, ô Ngọ có Kình Dương, ô Thìn có Đà La, ô Dần có Thiên Mã; Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi; dấu Triệt giữa Tý–Sửu, dấu Tuần giữa Ngọ–Mùi. Thấy Tuần ở Thân–Dậu là lá số đã nhập nhầm năm Giáp Tý hay Bính Tý. Muốn tra năm sinh hợp màu, hướng nào theo quan niệm dân gian, xem thêm tuviphongthuy.com.

Câu hỏi thường gặp

Bé gái sinh năm 2008 tuổi gì, mệnh gì?

Bé sinh trong năm âm lịch Mậu Tý, phần lớn trùng năm 2008, có nạp âm Tích Lịch Hoả. Bé sinh đầu năm 2008 trước Tết âm lịch thuộc năm Đinh Hợi, mệnh Ốc Thượng Thổ, nên cần đối chiếu lịch âm.

Thái Tuế bị Triệt có nghĩa là nói không ai nghe?

Đó là một cách đọc trong sách cũ, bên cạnh cách đọc ngược lại là biết giữ lời. Chi tiết này có ở mọi người tuổi Mậu Tý nên không nói gì riêng về tính cách hay uy tín của ai.

Ô Ngọ có Kình Dương, Khốc, Hư thì có đáng lo?

Không. Cả ô nằm trong Tuần nên các phái luận là dịu, và sách còn khen Khốc Hư ở Tý Ngọ là đắc địa. Một ô nhiều sao chỉ cho biết cung đó được sách bàn nhiều, không phải điềm xấu.

Can Mậu hoá Khoa vào sao nào?

Bảng phổ biến ở Việt Nam ghi Hữu Bật hoá Khoa. Một số phái ghi Thái Dương. Đây là một trong những dị bản tứ hoá được bàn nhiều, cùng với can Canh, can Nhâm và can Tân.

Bà sinh năm 1948 và cháu sinh năm 2008 có lá số giống nhau không?

Phần sao theo năm giống hệt nhau. Cung Mệnh, chính tinh và các sao theo tháng, ngày, giờ thì khác, nên hai lá số chỉ chung một lớp, không trùng nhau.

Dương nữ đi nghịch thì cung Phụ Mẫu có đổi chỗ không?

Không. Mười hai cung luôn an theo một chiều cố định từ cung Mệnh. Chỉ đại vận và một số vòng sao mới đổi chiều theo âm dương nam nữ, nên cần phân biệt khi đọc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.