Một cô gái sinh năm 1993 cầm tờ lá số in sẵn, thấy ô Tý ghi Lộc Tồn mà ngay cạnh là dấu Triệt, ô Hợi thì Thiên Mã nằm sát Đà La, liền hỏi: tuổi mình "kém lộc" và "khó đi xa" sao? Câu trả lời ngắn: không. Đó là những vị trí cố định của mọi người nữ tuổi Quý Dậu, và sách cũ chỉ dùng chúng làm hình ảnh.
Nữ Quý Dậu sinh năm âm lịch 1993 (vòng trước 1933), nạp âm Kiếm Phong Kim, âm nữ nên đại vận đi thuận. Theo năm sinh: Lộc Tồn ở Tý, Kình Dương ở Sửu, Đà La ở Hợi; Thiên Khôi ở Mão, Thiên Việt ở Tỵ; Thiên Mã ở Hợi; Tuần ở Tuất–Hợi, Triệt ở Tý–Sửu. Tứ hoá can Quý: Phá Quân hoá Lộc, Cự Môn hoá Quyền, Thái Âm hoá Khoa, Tham Lang hoá Kỵ. Bài lần lượt giải hai chỗ "kẹt" ấy, phần tứ hoá và những gì cần giờ sinh mới biết.
Lộc Tồn ở Tý trong Triệt: đọc chữ "lộc ngộ không"
Can Quý đặt Lộc Tồn ở Tý; Kình Dương đứng ngay sau ở Sửu. Triệt của can Quý (cũng như can Mậu) chắn đúng hai ô Tý–Sửu. Thế là cả Lộc Tồn lẫn Kình Dương của nữ Quý Dậu đều nằm sau vạch Triệt. Vì cả Lộc Tồn lẫn Triệt đều an theo can, chi tiết này có ở cả sáu tuổi Quý: Quý Dậu, Quý Tỵ, Quý Sửu, Quý Hợi, Quý Mão, Quý Mùi.
Sách cổ có câu "Lộc ngộ Không vong" chỉ những lá số Lộc gặp Tuần Triệt hay sao Không: luận là của khó giữ, hoặc đến từ đường vòng. Câu đầy đủ trong Thái Vi phú nói về Lộc gặp xung phá; ở đây chỉ cần nhớ một điều: Triệt chặn cả cái tốt lẫn cái xấu. Lộc Tồn bị chặn thì tiền "để dành" bớt đều đặn; Kình Dương bị chặn thì tính gay gắt cũng bớt bén.
Ví dụ giả định: lá số nữ Quý Dậu có Mệnh tại Tý, Kim tứ cục, vận đầu bốn tuổi. Mệnh toạ Lộc Tồn trong Triệt, Kình Dương ở Phụ Mẫu (Sửu) cũng trong Triệt, Đà La ở Huynh Đệ (Hợi) trong Tuần. Sách sẽ tả một người phải tự tạo dựng, không trông vào của sẵn. Mô tả này đúng với rất nhiều người cùng thế hệ, vì đó là trải nghiệm chung của người đi làm hơn là dấu hiệu riêng của lá số.
Thiên Mã và Đà La cùng ở Hợi, lại trong Tuần: "chiết túc mã"
Chi Dậu thuộc nhóm Tỵ–Dậu–Sửu nên Thiên Mã an ở Hợi. Đà La luôn đứng trước Lộc Tồn một ô, tức cũng ở Hợi. Sách đặt tên cho tổ hợp này là "chiết túc mã", ngựa què chân: Thiên Mã tượng dịch chuyển, Đà La tượng sự dây dưa, chậm. Cộng thêm Tuần ở Tuất–Hợi, ô Hợi của nữ Quý Dậu có ba lớp cùng nói một ý là "đi mà chậm".
Ngoài tuổi Quý Dậu, các tuổi Quý Tỵ, Quý Sửu cũng có Mã gặp Đà ở Hợi; các tuổi Đinh và Kỷ gặp chi Mão, Hợi, Mùi có cùng hình ảnh ở Tỵ. Như vậy "chiết túc mã" là một cấu trúc của cặp can–chi, không phải lời phán riêng cho ai.
Đọc theo hôm nay: chuyển chỗ ở, đổi nơi làm, đi học xa, những việc ấy với người mang tổ hợp này thường được sách tả là phải chuẩn bị nhiều hơn, chờ thủ tục lâu hơn. Đó là một lời nhắc về sự kiên nhẫn. Không có lý do gì để từ chối một cơ hội học tập hay công việc ở xa chỉ vì ô Hợi của lá số. Quyết định đi hay ở cần dựa vào công việc, gia đình, tài chính và sức khoẻ.
Cục theo cung Mệnh và vòng Bác Sĩ của âm nữ Quý Dậu
Can Quý dùng chung bảng cục với can Mậu. Vòng Bác Sĩ khởi ở Tý (ô Lộc Tồn) và đi thuận vì là âm nữ:
| Mệnh ở | Cục / quan hệ với Kiếm Phong Kim | Sao vòng Bác Sĩ |
|---|---|---|
| Tý | Kim tứ cục / đồng hành | Bác Sĩ |
| Sửu | Kim tứ cục / đồng hành | Lực Sĩ |
| Dần | Thuỷ nhị cục / mệnh sinh cục | Thanh Long |
| Mão | Thuỷ nhị cục / mệnh sinh cục | Tiểu Hao |
| Thìn | Thổ ngũ cục / cục sinh mệnh | Tướng Quân |
| Tỵ | Thổ ngũ cục / cục sinh mệnh | Tấu Thư |
| Ngọ | Hoả lục cục / cục khắc mệnh | Phi Liêm |
| Mùi | Hoả lục cục / cục khắc mệnh | Hỷ Thần |
| Thân | Mộc tam cục / mệnh khắc cục | Bệnh Phù |
| Dậu | Mộc tam cục / mệnh khắc cục | Đại Hao |
| Tuất | Thuỷ nhị cục / mệnh sinh cục | Phục Binh |
| Hợi | Thuỷ nhị cục / mệnh sinh cục | Quan Phủ |
Đọc một hàng: Mệnh tại Mão là Thuỷ nhị cục, bản mệnh sinh cục, vận đầu từ hai tuổi; ô Mão có Thiên Khôi và Tiểu Hao. Mệnh tại Tỵ là Thổ ngũ cục, cục sinh mệnh, ô Tỵ có Thiên Việt và Tấu Thư, sách hay ghép thành "quý nhân trong việc chữ nghĩa".
Nam Quý Dậu đi nghịch nên vòng Bác Sĩ đảo chiều, chỉ chung ô Bác Sĩ ở Tý và ô Phi Liêm ở Ngọ đối diện. Vì thế anh em sinh đôi khác giới cùng giờ có ô Mệnh giống mà các sao vòng Bác Sĩ khác.
Tứ hoá can Quý: Phá Quân hoá Lộc, Tham Lang hoá Kỵ
Phá Quân hoá Lộc. Phá Quân là sao phá cũ dựng mới. Được Lộc thì sách tả lợi đến từ sự thay đổi, từ việc dám làm khác. Với thế hệ sinh đầu những năm chín mươi, hình ảnh này khá gần: nhiều người đổi nghề ít nhất một lần.
Cự Môn hoá Quyền. Lời nói có sức nặng, có lý lẽ. Sách cũ bảo người có Cự Môn hoá Quyền hợp với nghề giảng giải, tranh luận, tư vấn. Đây là phẩm chất cần rèn, sao chỉ là cách sách đặt tên cho nó.
Thái Âm hoá Khoa. Thái Âm vốn được sách nữ mệnh đọc là sao chính của phụ nữ: sự dịu dàng, nhà cửa, tích luỹ. Hoá Khoa thêm tiếng tốt, sự thanh nhã. Thái Âm sáng ở các cung đêm (từ Thân đến Tý), tối ở các cung ngày, nên cùng chữ Khoa mà mỗi lá số luận một kiểu.
Tham Lang hoá Kỵ. Sách cổ luận Tham Lang hoá Kỵ là ham muốn bị vướng, có bản cho nữ mệnh còn thêm lời răn đạo đức. Lời răn ấy nên bỏ. Đọc hôm nay: mong muốn nhiều mà nguồn lực có hạn, nhắc người đọc chọn ít việc mà làm đến nơi.
Thiên Khôi ở Mão, Thiên Việt ở Tỵ: hai ô sạch của tuổi Quý Dậu
Đối lập với dải Tý–Sửu bị Triệt và dải Tuất–Hợi bị Tuần, hai sao quý nhân của can Quý nằm ở Mão và Tỵ, đều sạch. Ô Mão còn có Thiên Hư và Tuế Phá của vòng Thái Tuế, ô Tỵ có Bạch Hổ. Sách hay nói "quý nhân đi cùng sao động", tức là sự giúp đỡ thường đến lúc có biến chuyển, lúc phải xử lý việc khó.
Ô Ngọ của tuổi Dậu luôn có Hồng Loan và Đào Hoa; với can Quý, ô Ngọ có thêm Phi Liêm. Ô Tý đối diện có Thiên Hỷ nằm cạnh Lộc Tồn trong Triệt. Người đọc lá số thường thấy trục Tý–Ngọ của nữ Quý Dậu là trục "duyên": một đầu sáng, một đầu bị chặn.
Ví dụ giả định: nữ Quý Dậu có Mệnh tại Mùi, Hoả lục cục, Thiên Khôi ở Mão và Thiên Việt ở Tỵ không chiếu thẳng vào Mệnh, nhưng ô Mão nằm trong tam hợp Hợi–Mão–Mùi. Sách sẽ nói có người giúp mà phải tự đi tìm. Lời đáng giữ từ đây khá thực tế: biết hỏi, biết nhờ đúng người, và nhớ rằng lá số chỉ là một bộ biểu tượng gợi ra câu hỏi chứ không thay mình chọn người cộng sự hay nơi làm việc.
Một chi tiết nhỏ hay bị bỏ qua: Thiên Việt ở Tỵ ngồi cùng Tấu Thư và Bạch Hổ, còn ô Tỵ lại là vị trí Văn Khúc của người sinh giờ Sửu và Văn Xương của người sinh giờ Tỵ. Vì vậy một số lá số Quý Dậu có ô Tỵ chồng tới ba sao liên quan chữ nghĩa, lời lẽ. Sách sẽ khen chuyện học, chuyện viết; người đọc hôm nay có thể coi đó là gợi ý về một thế mạnh nên thử, còn thành hay không vẫn ở công rèn luyện.
Đọc hai trục bị che: Tý–Ngọ và Tuất–Hợi–Thìn–Tỵ
Nhìn cả vòng mười hai ô của nữ Quý Dậu, hai vạch "không vong" nằm ở Tý–Sửu (Triệt) và Tuất–Hợi (Tuần). Bốn ô liền nhau từ Tuất qua Hợi, Tý tới Sửu đều bị che, và bốn sao theo năm quan trọng (Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Mã) nằm gọn trong dải đó. Nửa còn lại từ Dần tới Dậu sạch, trong đó có Thiên Khôi, Thiên Việt và cặp Hồng Loan, Đào Hoa.
Các phái luận Tuần và Triệt khác nhau ở thời điểm: nhiều người cho Triệt nặng ở nửa đầu đời, Tuần rõ hơn ở nửa sau; có phái thì coi cả hai có hiệu lực suốt đời nhưng mạnh yếu khác nhau. Lại có cách đọc "phản vi": sao xấu gặp Tuần Triệt thì bớt xấu, nên Kình Dương trong Triệt và Đà La trong Tuần của tuổi này được coi là nhẹ đi. Chính vì các phái không thống nhất, người đọc nên coi Tuần Triệt là lời chú thích, không phải nút bấm.
Ví dụ giả định: Mệnh tại Dậu, Mộc tam cục, vận đầu ba tuổi, đi thuận. Vận hai 13–22 ở Tuất trong Tuần, vận ba 23–32 ở Hợi có Mã, Đà trong Tuần, vận bốn 33–42 ở Tý có Lộc Tồn trong Triệt, vận năm 43–52 ở Sửu có Kình Dương trong Triệt, vận sáu 53–62 ở Dần mới ra khỏi dải bị che. Đọc theo sách thì đây là chuỗi bốn vận "chậm mà chắc". Người sinh năm 1993 đang ở khoảng vận ba, vận bốn; nếu đọc chuỗi này như lời dự báo, rất dễ tự thấy mình chậm hơn bạn bè. Cách đọc lành mạnh hơn: các chặng mười năm là khung để tự hỏi mình đang tích luỹ điều gì, không phải thước đo thành bại.
Sách phổ thông về nữ Quý Dậu và phần cần giờ sinh
Sách Thái Ất phổ thông thường viết cho nữ Quý Dậu: "thông minh, tự lập, tiền bạc lúc có lúc không, nên tránh nóng vội, hậu vận khá". Câu "tiền bạc lúc có lúc không" là cách diễn đạt dân gian cho Lộc Tồn bị Triệt; nó đúng với hầu hết mọi người làm công ăn lương, không nên đọc như lời báo trước. Bà sinh năm 1933 cùng tuổi Quý Dậu cũng từng đọc những dòng tương tự trong một thời đại hoàn toàn khác.
Phải có giờ sinh mới biết: Mệnh, Thân nằm đâu, chính tinh, vị trí thật của Phá Quân hoá Lộc và Tham Lang hoá Kỵ, Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, Hoả Linh, cục số, vòng Tràng Sinh. Thân chủ theo chi Dậu là Thiên Đồng; mệnh chủ thì tuỳ phái tính theo chi năm hay chi cung Mệnh.
Tự kiểm lá số nữ Quý Dậu: ô Tý có Lộc Tồn, ô Sửu có Kình Dương, ô Hợi có cả Đà La lẫn Thiên Mã; dấu Triệt giữa Tý–Sửu, dấu Tuần giữa Tuất–Hợi; Tham Lang mang chữ Kỵ, Phá Quân mang chữ Lộc. Nếu thấy Lộc Tồn ở Ngọ thì lá số đã bị nhập can Đinh hoặc Kỷ. Ô thông tin phải ghi "âm nữ".
Câu hỏi thường gặp
Nữ sinh năm 1993 mệnh gì theo nạp âm?
Người sinh trong năm âm lịch Quý Dậu, phần lớn trùng năm 1993, có nạp âm Kiếm Phong Kim, vàng đầu mũi kiếm. Người sinh đầu năm 1993 trước Tết âm lịch thuộc năm Nhâm Thân, cũng Kiếm Phong Kim nhưng can chi khác.
Lộc Tồn bị Triệt có phải cả đời thiếu tiền?
Không. Sách chỉ dùng hình ảnh của đến chậm hoặc phải tự tạo dựng. Mọi người nữ Quý Dậu đều có chi tiết này, nên nó không thể nói gì về thu nhập của một người, vốn phụ thuộc nghề nghiệp, kỹ năng và hoàn cảnh.
Chiết túc mã có nghĩa là không nên đi xa?
Không nên lấy lá số làm căn cứ cho quyết định đó. Chiết túc mã chỉ là hình ảnh ngựa đi chậm, nhắc sự chuẩn bị và kiên nhẫn. Đi học, đi làm xa cần cân nhắc theo cơ hội thật, gia đình và tài chính.
Tham Lang hoá Kỵ có phải nói xấu về nữ mệnh?
Sách cũ có bản gán lời răn đạo đức cho nữ mệnh có Tham Lang hoá Kỵ. Cách đọc đó thuộc xã hội xưa và nên bỏ. Hôm nay có thể hiểu là mong muốn nhiều hơn nguồn lực, nhắc việc chọn ưu tiên.
Nữ Quý Dậu có Hồng Loan ở đâu?
Hồng Loan an theo chi năm, đếm nghịch từ Mão; với tuổi Dậu, Hồng Loan ở Ngọ, Thiên Hỷ ở Tý đối diện. Mọi người tuổi Dậu, nam hay nữ, đều có hai sao ở hai vị trí này, không phân biệt can.
Vì sao âm nữ lại đi vận thuận?
Quy tắc đẩu số cho dương nam và âm nữ đi thuận, âm nam và dương nữ đi nghịch. Can Quý là can âm nên nữ Quý Dậu đi thuận: từ cung Mệnh sang Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch theo chiều kim đồng hồ.