Cục số là con số đi kèm tên ngũ hành cục trên lá số: Thuỷ nhị cục là 2, Mộc tam cục là 3, Kim tứ cục là 4, Thổ ngũ cục là 5, Hoả lục cục là 6. Con số này chính là tuổi (thường tính theo tuổi âm) mà đại vận thứ nhất bắt đầu, và từ đó mỗi đại vận kéo dài mười năm. Vì vậy người Thuỷ nhị cục chuyển vận ở các tuổi 2, 12, 22, 32…, còn người Hoả lục cục chuyển ở 6, 16, 26, 36… Hai người cùng tuổi có thể đang ở hai giai đoạn vận khác nhau chỉ vì cục khác nhau.
Ngũ hành cục là gì và tìm cục ra sao là khái niệm nền đã có ở các bài nhập môn. Bài này chỉ đi vào chuyện con số: nó quyết định những gì trên lá số, tính tuổi đại vận cụ thể thế nào, những chỗ các sách tính khác nhau, và một ví dụ ba lá số giả định có cùng tháng, ngày, giờ sinh mà ra ba cục khác nhau.
Bảng tuổi khởi đại vận theo năm cục
Bảng dưới đây ghi tuổi bắt đầu của năm đại vận đầu tiên theo từng cục. Mỗi vận kéo dài mười năm, nên vận thứ nhất của Thuỷ nhị cục là từ 2 đến 11 tuổi, vận thứ hai từ 12 đến 21 tuổi, và cứ thế:
| Cục | Số | Vận 1 | Vận 2 | Vận 3 | Vận 4 | Vận 5 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Thuỷ nhị cục | 2 | 2–11 | 12–21 | 22–31 | 32–41 | 42–51 |
| Mộc tam cục | 3 | 3–12 | 13–22 | 23–32 | 33–42 | 43–52 |
| Kim tứ cục | 4 | 4–13 | 14–23 | 24–33 | 34–43 | 44–53 |
| Thổ ngũ cục | 5 | 5–14 | 15–24 | 25–34 | 35–44 | 45–54 |
| Hoả lục cục | 6 | 6–15 | 16–25 | 26–35 | 36–45 | 46–55 |
Một mẹo nhớ: người thuộc cục nào thì đổi vận vào những tuổi có chữ số tận cùng bằng cục số. Thổ ngũ cục đổi ở các tuổi tận cùng bằng 5, Hoả lục cục ở các tuổi tận cùng bằng 6.
Mười hai đại vận nhân mười năm là một trăm hai mươi năm, nên trên thực tế không lá số nào đi hết vòng. Với Hoả lục cục, đại vận thứ chín đã bắt đầu từ 86 tuổi; với Thuỷ nhị cục, đại vận thứ chín bắt đầu từ 82 tuổi. Những cung nằm ở cuối chuỗi vận, tuỳ chiều thuận nghịch, là những cung mà đại vận gần như không chạm tới. Điều này lý giải vì sao có những lá số mà cung Thân, hay một cung quan trọng nào đó, không bao giờ được "đi qua" bằng đại vận, và các phái phải đặt thêm quy ước để đọc chúng.
Đại vận thứ nhất luôn đặt tại cung Mệnh, đại vận thứ hai ở cung kề bên theo chiều thuận hoặc nghịch tuỳ âm dương nam nữ. Cục số quyết định khi nào vận đổi, còn chiều đi quyết định vận đổi sang cung nào. Hai yếu tố này tách bạch nhau.
Cục số còn quyết định vị trí sao Tử Vi
Ít người để ý rằng cục số không chỉ định tuổi khởi vận mà còn là chìa khoá an sao Tử Vi, tức là gián tiếp quyết định vị trí cả mười bốn chính tinh. Cách an như sau: lấy ngày sinh âm lịch chia cho cục số. Nếu chia hết, thương số cho biết đếm bao nhiêu cung từ Dần. Nếu không chia hết, phải "mượn" thêm để thành số chia hết, rồi lùi hoặc tiến theo số đã mượn (mượn số lẻ thì lùi, mượn số chẵn thì tiến).
Ví dụ, ngày 12 với Thổ ngũ cục: 12 không chia hết cho 5, mượn 3 để thành 15, thương là 3. Từ Dần đếm ba cung (Dần là 1, Mão là 2, Thìn là 3) được Thìn. Số mượn là 3, số lẻ, nên lùi ba cung từ Thìn: Mão, Dần, Sửu. Tử Vi ở Sửu. Cũng ngày 12 nhưng Mộc tam cục thì 12 chia hết cho 3 được 4, đếm bốn cung từ Dần được Tỵ, Tử Vi ở Tỵ.
Như vậy cùng một ngày sinh, cục khác nhau thì Tử Vi khác chỗ, kéo theo Thiên Phủ và toàn bộ hai chòm sao khác chỗ. Đây là lý do cục được coi là một trong những thông số nền tảng nhất của lá số, chỉ sau vị trí cung Mệnh. Muốn kiểm tra một lá số in sẵn có an đúng không, cách nhanh là tự làm phép chia này rồi so vị trí Tử Vi.
Phép "mượn số" này cũng cho thấy một đặc điểm thú vị: với cục số nhỏ (Thuỷ nhị cục), Tử Vi đi chậm qua các cung khi ngày sinh tăng; với cục số lớn (Hoả lục cục), Tử Vi nhảy nhiều hơn. Đó là thuần tuý số học, không mang ý nghĩa luận đoán nào.
Ba lá số giả định cùng tháng, ngày, giờ
Để thấy cục số thay đổi ra sao, hãy xét ba lá số GIẢ ĐỊNH, cùng sinh tháng Tư âm lịch, ngày 9, giờ Ngọ. Tháng Tư giờ Ngọ cho cung Mệnh ở Hợi trong cả ba trường hợp. Chỉ khác năm sinh:
| Lá số giả định | Can chi cung Mệnh | Cục | Tử Vi ở | Đại vận 1 tại Hợi | Đại vận 2 |
|---|---|---|---|---|---|
| Nữ, năm Quý Dậu | Quý Hợi | Thuỷ nhị cục | Tỵ | 2–11 tuổi | 12–21 tuổi, cung Tý |
| Nam, năm Giáp Ngọ | Ất Hợi | Hoả lục cục | Tý | 6–15 tuổi | 16–25 tuổi, cung Tý |
| Nữ, năm Ất Hợi | Đinh Hợi | Thổ ngũ cục | Dần | 5–14 tuổi | 15–24 tuổi, cung Tý |
Can của cung Mệnh được tìm bằng phép ngũ hổ độn từ can năm sinh, rồi lấy nạp âm của can chi cung Mệnh ra hành của cục: Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ, Ất Hợi là Sơn Đầu Hoả, Đinh Hợi là Ốc Thượng Thổ. Ba người cùng có Mệnh ở Hợi, nhưng ba cục khác nhau dẫn tới ba vị trí Tử Vi khác nhau, và mốc đổi vận lệch nhau tới bốn năm.
Cả ba lá số đều đi thuận: nữ tuổi Quý và nữ tuổi Ất là âm nữ, nam tuổi Giáp là dương nam. Nhờ vậy đại vận thứ hai của cả ba đều ở cung Tý, nhưng vào các tuổi khác nhau.
Tính nhanh: mình đang ở đại vận nào
Với một lá số trong tay, có thể xác định đại vận hiện tại bằng năm bước, không cần bảng tra phức tạp:
- Xem ô giữa lá số, ghi lại tên cục và cục số. Ví dụ Kim tứ cục, số 4.
- Tính tuổi âm hiện tại: lấy năm âm lịch đang xét trừ năm sinh âm lịch, cộng thêm một.
- Lấy tuổi âm trừ cục số, chia cho mười, lấy phần nguyên, cộng một. Kết quả là thứ tự đại vận. Ví dụ tuổi âm 37, Kim tứ cục: (37 trừ 4) chia 10 được 3, cộng 1 là đại vận thứ tư (34 đến 43 tuổi).
- Xác định chiều đi: dương nam và âm nữ đi thuận, âm nam và dương nữ đi nghịch. Can Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là âm.
- Từ cung Mệnh (đại vận thứ nhất), đếm theo chiều đi đến đúng thứ tự vận vừa tính. Đại vận thứ tư đi thuận từ Mệnh ở Hợi sẽ là Tý, Sửu, Dần: cung Dần.
Đa số lá số in sẵn đã ghi tuổi đại vận ở góc mỗi cung (con số như 4, 14, 24…), nên bước ba đến bước năm có thể làm bằng mắt. Nhưng tự tính một lần giúp hiểu vì sao các con số ấy đứng ở đó, và giúp phát hiện lá số in sai, chuyện vẫn xảy ra khi phần mềm nhập nhầm giới tính hoặc năm âm.
Một lỗi hay gặp là quên rằng tuổi âm tính theo năm âm lịch. Người sinh tháng Chạp âm lịch nhưng đã sang tháng Một dương lịch vẫn thuộc năm âm lịch cũ; tính sai năm là lệch cả can, cục và chiều vận. Điểm này các bài nhập môn đã nói kỹ, ở đây chỉ nhắc để khỏi tính nhầm đại vận.
Những chỗ các sách tính khác nhau
Dị bản thứ nhất là cách tính tuổi. Phần lớn sách và lá số in ở Việt Nam tính tuổi theo tuổi âm (tuổi mụ), tức năm sinh đã là một tuổi. Một số tài liệu hiện đại quy về tuổi tròn, khiến mốc đổi vận lệch một năm. Khi đọc sách, cần biết sách đó dùng tuổi nào, nếu không sẽ thấy vận "đổi sớm" hoặc "đổi muộn" một năm so với lá số trong tay.
Dị bản thứ hai là những năm trước đại vận thứ nhất. Với Hoả lục cục, từ một đến năm tuổi chưa vào đại vận nào. Có sách dùng một bảng riêng gọi là "đồng hạn" để xem các năm ấu thơ, có sách bỏ qua, có sách coi cung Mệnh bao luôn cả những năm đó. Với mục đích tìm hiểu, điều này không quan trọng lắm, nhưng biết để khỏi bối rối khi các nguồn nói khác.
Dị bản thứ ba liên quan tới ranh giới năm. Có người tính đổi vận vào đầu năm âm lịch của tuổi đó, có người tính theo ngày sinh. Không có cách nào chứng minh bên nào đúng, vì đây là quy ước. Người đọc nên chọn một lối, ghi rõ, rồi dùng nhất quán.
Còn câu hỏi vì sao Thuỷ là 2, Hoả là 6: sách kinh điển không giải thích cặn kẽ. Có người liên hệ với số của ngũ hành trong Hà đồ, có người cho là quy ước truyền lại. Không nên dựng thêm ý nghĩa như "cục số lớn thì chín muộn" từ một con số mà chính nguồn gốc của nó còn chưa rõ.
Đọc cục số cho đúng mức
Có lời truyền miệng rằng người cục số nhỏ "vào đời sớm", người cục số lớn "thành muộn". Đó là suy diễn từ việc vận đầu tiên bắt đầu sớm hay muộn, nhưng vận đầu tiên của ai cũng rơi vào tuổi thơ, khi đứa trẻ gần như hoàn toàn phụ thuộc gia đình. Lệch bốn năm ở tuổi lên hai hay lên sáu không nói gì về chuyện lập nghiệp sớm hay muộn.
Cách dùng cục số hữu ích nhất là dùng như một chiếc thước: biết cục số, ta biết mình đang ở đại vận nào và cung nào đang được đọc. Từ đó có thể mở đúng đoạn sách tương ứng, thay vì đọc nhầm sang vận trước hay vận sau. Ngoài vai trò ấy, con số này không mang thêm thông điệp về số phận.
Lá số tử vi là một hệ biểu tượng; cục số là một phần trong bộ máy tính toán của hệ ấy. Hiểu bộ máy giúp ta đọc lá số chính xác hơn theo đúng luật chơi của nó, nhưng không biến lá số thành công cụ dự báo. Những mốc quan trọng của đời người, như học hành, công việc, gia đình, vẫn do hoàn cảnh và lựa chọn thật quyết định.
Muốn ôn lại ngũ hành cục là gì và cách an Mệnh, Thân từ đầu, có thể đọc loạt bài nhập môn ở trungtamtuvi.com.
Câu hỏi thường gặp
Cục số trên lá số dùng để làm gì?
Cục số có hai việc chính: cho biết tuổi bắt đầu đại vận thứ nhất (và vì thế mọi mốc đổi vận về sau), và là số chia dùng để an sao Tử Vi từ ngày sinh âm lịch. Ngoài hai việc đó, nó không mang thêm ý nghĩa luận đoán riêng.
Thuỷ nhị cục đổi vận năm bao nhiêu tuổi?
Thuỷ nhị cục bắt đầu đại vận thứ nhất từ 2 tuổi, rồi đổi vận ở 12, 22, 32, 42 tuổi và tiếp tục cách mười năm. Tuổi ở đây thường là tuổi âm theo cách tính của đa số lá số in ở Việt Nam.
Tuổi khởi vận tính theo tuổi âm hay tuổi tròn?
Phần lớn sách và lá số in ở Việt Nam dùng tuổi âm, tức năm sinh tính là một tuổi. Một số tài liệu hiện đại dùng tuổi tròn, nên mốc đổi vận lệch một năm. Cần biết nguồn mình đọc dùng lối nào.
Hai người cùng năm sinh có cùng cục không?
Không nhất thiết. Cục phụ thuộc can năm sinh và chi của cung Mệnh, mà cung Mệnh lại do tháng và giờ sinh quyết định. Cùng năm sinh nhưng khác tháng hoặc khác giờ thì cung Mệnh khác, cục có thể khác.
Trước tuổi khởi đại vận thứ nhất thì xem gì?
Các sách khác nhau: có sách dùng bảng đồng hạn cho những năm ấu thơ, có sách coi cung Mệnh bao luôn giai đoạn đó, có sách bỏ qua. Vì giai đoạn này là tuổi thơ, đa số người tìm hiểu không cần đi sâu.
Cục số lớn có phải thành công muộn không?
Không có cơ sở. Cục số lớn chỉ làm đại vận đầu tiên bắt đầu muộn vài năm, lúc ấy vẫn là tuổi thơ. Chuyện thành công sớm hay muộn phụ thuộc học hành, cơ hội và lựa chọn thật, không phụ thuộc con số này.