"Lửa trong lò" là cách người xưa gọi nạp âm Lư Trung Hoả, mệnh của tuổi Đinh Mão. Hình ảnh ấy hợp với tờ lá số của nữ tuổi này theo một cách khá lạ: những sao sáng nhất lại nằm ở chỗ khuất, còn ô mang chi năm sinh thì bị che.
Nữ Đinh Mão sinh năm âm lịch 1987 (vòng trước 1927), âm nữ nên đại vận đi thuận. Sao theo năm: Lộc Tồn ở Ngọ, Kình Dương ở Mùi, Đà La ở Tỵ; Thiên Khôi ở Hợi, Thiên Việt ở Dậu; Thiên Mã ở Tỵ, ngồi cùng Đà La; Tuần ở Tuất–Hợi, Triệt ở Dần–Mão. Tứ hoá can Đinh: Thái Âm hoá Lộc, Thiên Đồng hoá Quyền, Thiên Cơ hoá Khoa, Cự Môn hoá Kỵ. Bài đi vào ba điểm: Thái Âm hoá Lộc với cách đọc nữ mệnh, ô Mão bị Triệt, và Thiên Khôi nằm trong Tuần; cuối bài là phần cần giờ sinh và cách tự kiểm.
Thái Âm hoá Lộc: sao "của nữ mệnh" được thêm lộc
Trong sách nữ mệnh cũ, Thái Âm được coi là sao đại diện cho người phụ nữ: mặt trăng, sự êm dịu, việc nhà, của cải tích góp. Can Đinh hoá Lộc cho Thái Âm, nên với nữ Đinh Mão, những lời sách hay dành cho nữ mệnh có Thái Âm được nhân thêm một lớp "lộc". Các bản xưa viết khá đẹp: biết vun vén, có của để dành, được người trong nhà tin cậy.
Cần nhớ hai điều để khỏi đọc quá tay. Một là Thái Âm an theo ngày sinh, nên mỗi lá số Đinh Mão đặt nó ở ô khác, có khi ở Mệnh, có khi ở Tật Ách, có khi ở Nô Bộc. Hai là Thái Âm sáng ở các cung đêm (từ Thân đến Tý, sáng nhất ở Hợi, Tý) và tối ở các cung ngày (từ Dần đến Ngọ). Thái Âm hoá Lộc ở Hợi được khen hết lời; ở Mão, Thìn thì sách nói lộc có mà vất vả.
Ví dụ giả định: nữ Đinh Mão có Thái Âm ở cung Điền Trạch tại Hợi. Ô Hợi lại có Thiên Khôi và Tuần. Người đọc theo sách sẽ nói về nhà cửa có được nhờ người giúp, nhưng đến chậm. Với một người đang tính chuyện mua nhà, đây chỉ là một hình ảnh để suy ngẫm, còn quyết định phải dựa vào thu nhập, khoản vay và nhu cầu thật của gia đình.
Đọc theo hôm nay, Thái Âm hoá Lộc nói nhiều hơn về một cách làm ra và giữ của: đều đặn, kín đáo, chú trọng sự an toàn. Đó là phẩm chất có ở cả nam lẫn nữ tuổi Đinh, không phải đức tính riêng của "đàn bà" như sách cũ ngầm định.
Ô Mão của năm sinh nằm sau vạch Triệt
Triệt của can Đinh chắn Dần–Mão. Chi năm là Mão nên Thái Tuế bị Triệt. Cùng ô Mão còn có Thiên Khốc (Ngọ đếm nghịch ba bước) và Đại Hao của vòng Bác Sĩ. Ô Dần kế bên có Bệnh Phù, Trực Phù. Như vậy với nữ Đinh Mão, góc Dần–Mão gồm những sao mang giọng trầm, và tất cả đều sau vạch Triệt.
Phép đọc "sao xấu gặp Triệt thì bớt xấu" khiến nhiều người xem góc này là điểm lợi: Khốc, Hao, Bệnh Phù bị chặn. Phép đọc khác lại để ý rằng Thái Tuế, sao của lời nói và vị thế, cũng bị chặn. Hai cách hiểu cùng có trong sách, nên chi tiết này hợp làm đề tài trò chuyện hơn là căn cứ kết luận.
Ví dụ giả định: Mệnh tại Mão, Kim tứ cục, vận đầu bốn tuổi. Mệnh có Thái Tuế, Thiên Khốc, Đại Hao trong Triệt, cung Thiên Di ở Dậu có Thiên Việt, Thiên Hư, Tiểu Hao, Tuế Phá. Sách sẽ tả người ở nhà thì kín tiếng, ra ngoài thì có người đỡ. Đó là lời kể dựa trên vị trí sao, không phải bản nhận xét tính cách đáng tin hơn những gì người quen biết mình nói.
Mười hai ô với sao theo năm của nữ Đinh Mão
Bảng gom các sao chỉ phụ thuộc can chi năm sinh và giới tính; ai là nữ tuổi Đinh Mão cũng có y như vậy:
| Ô | Sao theo năm | Tuần / Triệt |
|---|---|---|
| Tý | Hồng Loan, Đào Hoa, Phi Liêm, Phúc Đức | không |
| Sửu | Quả Tú, Hỷ Thần, Điếu Khách | không |
| Dần | Bệnh Phù, Trực Phù | Triệt |
| Mão | Thái Tuế, Thiên Khốc, Đại Hao | Triệt |
| Thìn | Phục Binh, Thiếu Dương | không |
| Tỵ | Đà La, Thiên Mã, Cô Thần, Quan Phủ, Tang Môn | không |
| Ngọ | Lộc Tồn, Bác Sĩ, Thiên Hỷ, Thiếu Âm | không |
| Mùi | Kình Dương, Hoa Cái, Long Trì, Phượng Các, Lực Sĩ, Quan Phù | không |
| Thân | Thanh Long, Tử Phù | không |
| Dậu | Thiên Việt, Thiên Hư, Tiểu Hao, Tuế Phá | không |
| Tuất | Tướng Quân, Long Đức | Tuần |
| Hợi | Thiên Khôi, Tấu Thư, Bạch Hổ | Tuần |
Ô Mùi là ô đông sao nhất: Kình Dương đắc địa (Mùi là một trong bốn cung mộ), đi cùng bộ ba văn nhã Hoa Cái, Long Trì, Phượng Các. Sách xưa hay ghép Kình Dương sáng với sao văn thành hình ảnh "văn võ kiêm", người có tài mà cũng có gai.
Ô Tỵ gom Đà La, Thiên Mã, Cô Thần: tổ hợp ngựa vướng chân mà sách gọi "chiết túc mã", thêm Cô Thần là hình ảnh đi một mình. Nam Đinh Mão cũng có đúng ô này; điểm khác giữa nam và nữ nằm ở chiều vận và vòng Bác Sĩ, không ở các sao trên.
Thiên Khôi ở Hợi trong Tuần, Thiên Việt ở Dậu: quý nhân một kín một mở
Can Bính và can Đinh đặt Thiên Khôi ở Hợi, Thiên Việt ở Dậu. Với tuổi Đinh Mão, Tuần nằm ở Tuất–Hợi nên Khôi bị Tuần, còn Việt ở Dậu thì sạch. Sách phân biệt Khôi là quý nhân "ban ngày", người giúp công khai, có danh phận; Việt là quý nhân "ban đêm", sự giúp đỡ kín đáo, qua quan hệ riêng. Ở tuổi này, phần công khai bị khuất, phần kín đáo lại rõ.
Đọc cụ thể: lá số có Mệnh ở Dậu, hoặc Dậu nằm trong tam hợp Tỵ–Dậu–Sửu của Mệnh, sẽ được sách tả là gặp người giúp qua quen biết, qua bạn bè. Lá số có Mệnh ở Hợi, Mão, Mùi nhận Khôi trong Tuần, sách nói quý nhân đến muộn hoặc phải qua nhiều bước. Ô Hợi còn có Bạch Hổ của vòng Thái Tuế, làm giọng sách thêm phần "có trắc trở".
Một nhận xét đáng giữ: trong đời thật, phần lớn sự giúp đỡ đến từ những mối quan hệ được vun đắp lâu, không phải từ một ngôi sao. Đọc Khôi Việt như lời nhắc giữ quan hệ tốt với thầy, đồng nghiệp, người đi trước là cách dùng lá số hữu ích nhất. Lá số là bộ ký hiệu để suy nghĩ về đời mình, không phải danh sách ai sẽ đến giúp.
Ô Tý của nữ Đinh Mão, đối diện ô Ngọ có Lộc Tồn, lại là chỗ Hồng Loan và Đào Hoa cùng đóng, thêm Phi Liêm và Phúc Đức. Vậy trục Tý–Ngọ gom phần "duyên" ở một đầu và phần "lộc" ở đầu kia, cả hai đều sạch Tuần Triệt. Lá số có Mệnh ở Tý hay Ngọ sẽ nhận trọn trục này, một sao toạ thủ, một sao chiếu từ Thiên Di. Sách hay tả đó là người dễ mến mà biết giữ của; cách tả ấy nên đọc như một bức chân dung văn chương, không phải lời bảo đảm.
Thiên Đồng hoá Quyền, Thiên Cơ hoá Khoa, Cự Môn hoá Kỵ
Thiên Đồng hoá Quyền. Thiên Đồng là sao hưởng thụ, hoà dịu, vốn ít "quyền". Được Quyền, sách tả là người hiền mà có tiếng nói, biết dùng sự mềm để dẫn dắt. Thú vị là Thiên Đồng còn là thân chủ của tuổi Mão, nên với nữ Đinh Mão sao này xuất hiện hai lần: ô giữa ghi thân chủ, và chữ Quyền ở đâu đó trên lá số.
Thiên Cơ hoá Khoa. Sao mưu trí được thêm tiếng tốt: người có kế hoạch rõ, được khen vì cách làm việc. Sách hay gắn Thiên Cơ hoá Khoa với nghề cần suy tính, tính toán.
Cự Môn hoá Kỵ. Cự Môn là sao lời nói và sự ngờ vực; hoá Kỵ được sách cũ luận nặng về thị phi, khẩu thiệt. Đọc hôm nay: lời nói dễ bị hiểu sai, nên nói rõ, viết rõ. Đây là lời nhắc có ích cho bất kỳ ai, không phải lời báo tranh chấp.
Không có dị bản lớn. Khác với can Canh, Nhâm, Mậu hay Tân, bộ tứ hoá của can Đinh được các phái chép gần như giống nhau. Vì vậy lá số Đinh Mão in từ nhiều nguồn thường khớp chữ Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ, chỉ lệch ở Khôi Việt hoặc Hoả Linh nếu có.
Cục theo Mệnh, chiều vận thuận và một chuỗi vận mẫu
Can Đinh dùng chung bảng cục với can Nhâm: Mệnh ở Tý, Sửu là Mộc tam cục; Dần, Mão, Tuất, Hợi là Kim tứ cục; Thìn, Tỵ là Hoả lục cục; Ngọ, Mùi là Thuỷ nhị cục; Thân, Dậu là Thổ ngũ cục. Với bản mệnh Lư Trung Hoả: Mộc tam cục sinh mệnh, Hoả lục cục đồng hành, Thổ ngũ cục do mệnh sinh, Kim tứ cục bị mệnh khắc, Thuỷ nhị cục khắc mệnh.
Âm nữ đi thuận. Ví dụ giả định: Mệnh tại Thìn, Hoả lục cục (đồng hành với bản mệnh), vận một 6–15 ở Thìn, vận hai 16–25 ở Tỵ có Đà Mã, vận ba 26–35 ở Ngọ có Lộc Tồn và Thiên Hỷ, vận bốn 36–45 ở Mùi có Kình Dương và bộ sao văn nhã, vận năm 46–55 ở Thân. Sách sẽ dựng câu chuyện "đầu đời xoay xở, ngoài hai mươi lăm bắt đầu có của, ngoài ba mươi lăm có tiếng". Người sinh năm 1987 lúc này đã ở vận bốn theo ví dụ ấy, đọc lại thấy câu chuyện vừa khớp vừa không, đúng như mọi câu chuyện được dựng sẵn.
Chỗ cần tỉnh táo: chuỗi vận mẫu này chỉ đúng cho một vị trí Mệnh giả định. Lá số thật có Mệnh ở ô khác sẽ cho chuỗi khác hẳn, nên không thể đọc vận của nữ Đinh Mão chỉ từ năm sinh.
Sách phổ thông, phần cần giờ sinh và cách tự kiểm
Sách Thái Ất phổ thông thường tả nữ Đinh Mão là "hiền hoà, chịu khó, giỏi vun vén, lời nói đôi khi gây hiểu lầm, trung vận khá". Câu "lời nói gây hiểu lầm" gần như là bản dịch dân gian của Cự Môn hoá Kỵ. Bà sinh năm 1927 và cô gái sinh năm 1987 nhận cùng một đoạn văn, dù đời sống hai người khác nhau một trời một vực.
Phải có giờ sinh mới biết cung Mệnh, Thân, mười bốn chính tinh, chỗ của Thái Âm hoá Lộc và Cự Môn hoá Kỵ, Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, Hoả Linh, vòng Tràng Sinh. Nhóm tuổi Hợi–Mão–Mùi theo cách an thông dụng có Hoả Tinh khởi ở Dậu, Linh Tinh khởi ở Tuất.
Tự kiểm lá số nữ Đinh Mão: ô Ngọ có Lộc Tồn, ô Mùi có Kình Dương, ô Tỵ có cả Đà La và Thiên Mã; Thiên Khôi ở Hợi, Thiên Việt ở Dậu; dấu Triệt giữa Dần–Mão, dấu Tuần giữa Tuất–Hợi; Thái Âm mang chữ Lộc, Cự Môn mang chữ Kỵ. Ô thông tin ghi "âm nữ", vòng Bác Sĩ đi thuận từ Ngọ sang Mùi. Lệch chỗ nào là nên kiểm lại năm âm lịch và giới tính đã nhập.
Câu hỏi thường gặp
Nữ sinh năm 1987 mệnh gì theo nạp âm?
Người sinh trong năm âm lịch Đinh Mão, phần lớn trùng năm 1987, có nạp âm Lư Trung Hoả, lửa trong lò. Người sinh đầu năm 1987 trước Tết âm lịch thuộc năm Bính Dần, cũng Lư Trung Hoả nhưng can chi khác.
Thái Âm hoá Lộc có phải là giàu?
Không. Đó là hình ảnh sách dùng cho cách làm ra và giữ của đều đặn. Thái Âm hoá Lộc có ở mọi lá số tuổi Đinh, nam lẫn nữ, nên không thể nói gì về tài chính thật của một người.
Thái Tuế bị Triệt có ảnh hưởng gì?
Các phái đọc khác nhau: có phái cho là lời nói bớt trọng lượng, có phái cho là bớt thị phi. Chi tiết này chung cho mọi người tuổi Đinh Mão, nên chỉ nên đọc như một ghi chú văn hoá.
Cự Môn hoá Kỵ có nghĩa là hay cãi nhau?
Không. Sách cũ dùng Cự Môn hoá Kỵ để nói về thị phi, hiểu lầm. Đọc hôm nay, đó là lời nhắc nói rõ, viết rõ khi làm việc. Tính cách mỗi người do nhiều yếu tố thật quyết định.
Nữ Đinh Mão có thiên mã gặp Đà La giống nam Đinh Mão không?
Có. Thiên Mã an theo chi năm, Đà La theo can năm, nên mọi người tuổi Đinh Mão đều có hai sao cùng ở Tỵ. Nam và nữ khác nhau ở chiều đại vận và chiều vòng Bác Sĩ.
Mệnh chủ của nữ Đinh Mão là sao gì?
Tuỳ phái. Nếu tính theo chi năm Mão thì mệnh chủ là Văn Khúc; nếu tính theo chi cung Mệnh thì phải biết Mệnh ở ô nào. Thân chủ theo chi năm Mão là Thiên Đồng, sao cũng được can Đinh hoá Quyền.