Người nữ tuổi Tân Dậu sinh năm âm lịch 1981 (vòng sau là 2041), nạp âm Thạch Lựu Mộc, gỗ cây lựu mọc trên đá. Can Tân thuộc âm nên đây là âm nữ, đại vận đi thuận. Các sao an theo năm: Lộc Tồn ở Dậu, Kình Dương ở Tuất, Đà La ở Thân; Thiên Khôi ở Ngọ, Thiên Việt ở Dần (theo bảng phổ biến); Thiên Mã ở Hợi; Tuần ở Tý–Sửu, Triệt ở Thìn–Tỵ. Tứ hoá can Tân: Cự Môn hoá Lộc, Thái Dương hoá Quyền, Văn Khúc hoá Khoa, Văn Xương hoá Kỵ.
Tuổi này có một chỗ mà người cầm lá số in sẵn hay hỏi: Lộc Tồn nằm đúng ô Dậu, tức trùng ô Thái Tuế của năm sinh. Ô Ngọ đối diện nửa vòng lại gom ba sao người ta thích đọc là Thiên Khôi, Hồng Loan và Đào Hoa. Phần dưới đi qua từng ô theo năm, chỉ ra ô nào chồng nhiều lớp, và tách bạch chỗ sách cũ nói với chỗ người đọc hôm nay nên hiểu.
Lộc Tồn ở Dậu, trùng ô Thái Tuế: "của giữ ngay tại gốc"
Lộc Tồn an theo can năm, Thái Tuế an theo chi năm. Trong sáu mươi hoa giáp chỉ có bốn tuổi mà hai sao ngồi chung một ô: Giáp Dần, Ất Mão, Canh Thân và Tân Dậu. Với nữ Tân Dậu, ô Dậu vì vậy có cùng lúc Lộc Tồn, Thái Tuế và Bác Sĩ (sao đầu vòng Bác Sĩ luôn đứng chỗ Lộc Tồn), thêm Thiên Khốc an theo chi năm cũng rơi vào Dậu.
Sách luận Lộc Tồn là của để dành, lối sống biết giữ. Thái Tuế là sao của lời nói, lập trường, cái "tôi" trước đám đông. Ghép lại, lời bình thường gặp là người có chính kiến về tiền bạc, giữ nguyên tắc chi tiêu, ít khi vì nể mà chi. Thiên Khốc đứng chung làm giọng văn trầm xuống: sách cũ hay thêm chữ "lo xa", "ưu tư". Đọc theo hôm nay, đó là chân dung của người cẩn thận chứ không phải dấu hiệu buồn phiền.
Ví dụ giả định: một lá số nữ Tân Dậu có Mệnh tại Dậu, Hoả lục cục, vận đầu từ sáu tuổi. Mệnh ôm Lộc Tồn, Thái Tuế, Bác Sĩ, Thiên Khốc, hai bên là Đà La ở Thân và Kình Dương ở Tuất kẹp vào. Thế "Kình Đà giáp Mệnh" này có ở mọi lá số có Lộc Tồn thủ Mệnh, sách tả là bị kìm hai phía, phải tự lo nhiều. Nhưng đó là đặc điểm chung của cả một kiểu cấu trúc, không riêng ai.
Mười hai ô và các sao theo năm của nữ Tân Dậu
Bảng gom những sao chỉ phụ thuộc can chi năm sinh và giới tính, ai sinh năm Tân Dậu cũng có y như vậy. Cột cuối ghi Tuần, Triệt nếu ô đó bị phủ:
| Ô | Sao theo năm | Tuần / Triệt |
|---|---|---|
| Tý | Thiên Hỷ, Tiểu Hao, Thiếu Âm | Tuần |
| Sửu | Long Trì, Phượng Các, Hoa Cái, Tướng Quân, Quan Phù | Tuần |
| Dần | Thiên Việt, Tấu Thư, Tử Phù | không |
| Mão | Thiên Hư, Phi Liêm, Tuế Phá | không |
| Thìn | Hỷ Thần, Long Đức | Triệt |
| Tỵ | Bệnh Phù, Bạch Hổ | Triệt |
| Ngọ | Thiên Khôi, Hồng Loan, Đào Hoa, Đại Hao, Phúc Đức | không |
| Mùi | Quả Tú, Phục Binh, Điếu Khách | không |
| Thân | Đà La, Quan Phủ, Trực Phù | không |
| Dậu | Lộc Tồn, Bác Sĩ, Thái Tuế, Thiên Khốc | không |
| Tuất | Kình Dương, Lực Sĩ, Thiếu Dương | không |
| Hợi | Thiên Mã, Cô Thần, Thanh Long, Tang Môn | không |
Hai ô nặng sao nhất là Dậu và Ngọ, đều sạch Tuần Triệt. Ngược lại, bộ ba "văn nhã" Long Trì, Phượng Các, Hoa Cái dồn cả vào Sửu và nằm trong Tuần, nên lá số có Mệnh hay Quan Lộc ở Sửu sẽ được sách nói là tài hoa đến muộn.
Ô Hợi có Thiên Mã đi cùng Cô Thần và Thanh Long. Sách cũ ghép Mã với Cô Thần thành hình ảnh "đi một mình", đọc hôm nay là kiểu người quen tự xoay xở khi đổi môi trường, không phải lời báo cô đơn.
Ô Ngọ: Thiên Khôi, Hồng Loan, Đào Hoa ngồi chung
Hồng Loan an theo chi năm, đếm nghịch từ Mão; với tuổi Dậu nó rơi vào Ngọ. Đào Hoa của nhóm Tỵ–Dậu–Sửu cũng ở Ngọ. Thiên Khôi của can Tân, theo bảng phổ biến, lại đặt ở Ngọ. Ba sao gặp nhau trong một ô là chuyện không nhiều tuổi có, và người đọc lá số thường thấy ô Ngọ của nữ Tân Dậu "sáng" hơn các ô khác.
Sách cổ đọc Khôi là quý nhân, người đỡ đầu; Hồng Loan và Đào Hoa là duyên, sức hút, chuyện tình cảm. Nhiều bản nữ mệnh cũ ghép cặp Hồng Đào lại để bàn chuyện "sớm có người để ý", có bản còn chêm lời răn về nết na. Những lời răn ấy thuộc một xã hội coi sự chú ý của người khác dành cho phụ nữ là điều cần canh chừng; hôm nay không còn lý do để giữ.
Cách hiểu đáng giữ: ô Ngọ là nơi những mối quan hệ dễ chịu và người giúp đỡ hội lại. Lá số có Mệnh ở Ngọ thì sách nói người có duyên giao tiếp; Mệnh ở Dần hay Tuất thì ô Ngọ nằm trong tam hợp chiếu về; Mệnh ở Tý thì ô Ngọ là Thiên Di, hình ảnh "ra ngoài gặp người quý". Dị bản cần biết: một số phái đặt Khôi Việt của can Tân ở Dần và Ngọ nhưng đảo vai, hoặc theo hệ khác hẳn, nên lá số in từ nguồn khác có thể không thấy Khôi ở Ngọ.
Văn Khúc hoá Khoa, Văn Xương hoá Kỵ: cặp sao chữ nghĩa đổi vai
Điểm riêng của can Tân. Trong mười can, chỉ can Tân hoá cả hai sao Xương Khúc, một sao thành Khoa, một sao thành Kỵ. Hai sao này an theo giờ sinh: Văn Xương khởi ở Tuất đếm nghịch, Văn Khúc khởi ở Thìn đếm thuận, nên mỗi lá số Tân Dậu đặt chúng ở chỗ khác nhau.
Sách cũ đọc thế nào. Văn Khúc hoá Khoa được tả là tiếng tốt nhờ tài ăn nói, nghệ thuật, sự mềm mại. Văn Xương hoá Kỵ được luận là trục trặc giấy tờ, chữ ký, văn bản; có bản cổ nói nặng thành "vì chữ mà vướng".
Đọc hôm nay. Đây là một cặp nhắc nhở hơn là lời báo: thế mạnh nằm ở giao tiếp mềm, điểm cần cẩn trọng là thủ tục, hợp đồng, con số trên giấy. Người làm việc văn phòng gặp đúng hai mặt này mỗi ngày, ai cũng có.
Khi Xương Khúc đồng cung. Với người sinh giờ Mão hoặc giờ Dậu, Văn Xương và Văn Khúc ngồi chung một ô (giờ Mão thì cùng ở Mùi, giờ Dậu thì cùng ở Sửu). Khi ấy Khoa và Kỵ đứng chung một chỗ, các phái bàn rất khác nhau, có phái cho Khoa hoá giải phần lớn Kỵ, có phái giữ nguyên cả hai.
Cự Môn hoá Lộc, Thái Dương hoá Quyền và chiều vận thuận
Cự Môn là sao của lời nói và sự soi xét. Hoá Lộc làm lời nói thành lợi thế: sách tả người kiếm sống bằng miệng, bằng giảng giải, thuyết phục. Thái Dương hoá Quyền thêm sự hiện diện, tiếng nói có trọng lượng. Khi Cự Môn và Thái Dương đứng chung ở Dần hay Thân (cách Cự Nhật đồng cung), hai hoá này rơi vào cùng một ô, và đó là vị trí sách khen nhiều nhất cho tuổi Tân.
Âm nữ đi thuận: Mệnh, rồi Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc theo chiều kim đồng hồ. Ví dụ giả định: nữ Tân Dậu có Mệnh tại Mão, Mộc tam cục. Vận một 3–12 ở Mão, vận hai 13–22 ở Thìn trong Triệt, vận ba 23–32 ở Tỵ cũng trong Triệt, vận bốn 33–42 ở Ngọ có Khôi Hồng Đào, vận năm 43–52 ở Mùi. Người đọc theo sách sẽ nói tuổi hai mươi nhiều việc dang dở, ngoài ba mươi mở ra. Đó là cách diễn đạt một chuỗi biểu tượng, không phải lịch trình.
Với người sinh năm 1981, những lời ấy đọc lại lúc đã ngoài bốn mươi thì thấy rõ tính chất của nó: ai nhìn lại tuổi hai mươi cũng thấy nhiều thứ dang dở. Lá số là một hệ ký hiệu người xưa dùng để chia đời người thành chặng mà suy ngẫm, còn việc đổi nghề, mua nhà hay chăm con vẫn cần dựa vào điều kiện thật. Muốn tra năm sinh hợp màu nào, hướng nào, xem thêm tuviphongthuy.com.
Kình Dương ở Tuất, Đà La ở Thân: hai sát tinh kẹp ô Dậu
Kình Dương luôn đứng ngay sau Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La đứng ngay trước. Với can Tân, Kình Dương rơi vào Tuất, Đà La rơi vào Thân. Bảng miếu hãm thông dụng xếp Kình Dương đắc địa ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; như vậy Kình Dương của nữ Tân Dậu đóng ở chỗ sáng. Đà La thì sáng ở bốn cung mộ ấy và tối ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, nên Đà La ở Thân được nhiều sách xếp vào loại hãm.
Sách đọc Kình Dương đắc địa là sự quyết đoán có chỗ dùng, người dám nhận phần việc khó. Đà La hãm thì được tả là dây dưa, hay để việc kéo dài. Một sao sáng một sao tối kẹp hai bên ô Lộc Tồn là hình ảnh khá đời thường: có lúc mình quyết nhanh, có lúc lại lần lữa, và cả hai đều ảnh hưởng tới cách giữ tiền.
Ví dụ giả định: nữ Tân Dậu có Mệnh tại Tuất, Mộc tam cục. Mệnh có Kình Dương đắc địa cùng Lực Sĩ và Thiếu Dương; cung Thiên Di ở Thìn bị Triệt; tam hợp Dần–Ngọ–Tuất đưa Thiên Việt (Dần) và cụm Khôi, Hồng, Đào (Ngọ) về chiếu Mệnh. Sách sẽ dựng chân dung một người cứng cỏi mà được lòng người, đi ra ngoài thì ít gặp may hơn ở chỗ quen. Đó là cách xâu chuỗi biểu tượng; người cầm lá số không cần coi nó là lời khuyên ở yên một chỗ.
Sách phổ thông về nữ Tân Dậu và phần phải có giờ sinh
Sách Thái Ất phổ thông in hằng năm thường viết cho nữ Tân Dậu kiểu "tính cẩn thận, khéo tay, tiền bạc biết giữ, tình cảm có lúc lận đận, trung vận an ổn". Những câu như "lận đận đường chồng con" là khuôn chung lặp lại ở rất nhiều tuổi trong cùng một cuốn; đọc chúng như tư liệu về cách người xưa viết về phụ nữ, không như mô tả một người cụ thể.
Phải có giờ sinh mới biết: cung Mệnh và cung Thân nằm đâu, mười bốn chính tinh, vị trí Cự Môn hoá Lộc và Thái Dương hoá Quyền, Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, Hoả Linh, cục số và vòng Tràng Sinh. Với nhóm tuổi Tỵ–Dậu–Sửu, cách an phổ biến cho Hoả Tinh khởi ở Mão, Linh Tinh khởi ở Tuất; âm nữ thì Hoả đếm thuận, Linh đếm nghịch theo giờ.
Tự kiểm lá số in sẵn của nữ Tân Dậu: ô Dậu phải có Lộc Tồn, ô Tuất có Kình Dương, ô Thân có Đà La, ô Hợi có Thiên Mã; dấu Tuần ở giữa Tý–Sửu, dấu Triệt giữa Thìn–Tỵ; Văn Xương mang chữ Kỵ, Văn Khúc mang chữ Khoa. Nếu Thiên Mã nằm ở Tỵ thì nhiều khả năng lá số đã nhập nhầm sang tuổi Mão hay Mùi. Ô thông tin phải ghi "âm nữ"; ghi khác là cả chiều vận lẫn vòng Bác Sĩ đều sai theo.
Câu hỏi thường gặp
Nữ sinh năm 1981 tuổi gì, mệnh nạp âm là gì?
Người sinh trong năm âm lịch Tân Dậu, phần lớn rơi vào năm 1981 dương lịch, mệnh nạp âm Thạch Lựu Mộc. Người sinh đầu năm 1981 trước Tết âm lịch vẫn thuộc năm Canh Thân, nên cần đối chiếu lịch âm khi lập lá số.
Lộc Tồn trùng ô Thái Tuế có gì đặc biệt?
Sách đọc đó là của để dành gắn với lập trường riêng, người có nguyên tắc về tiền bạc. Đây là đặc điểm chung của mọi người sinh năm Tân Dậu, không nói gì về thu nhập thật của một người cụ thể.
Ô Ngọ có Hồng Loan, Đào Hoa thì có phải sớm lấy chồng?
Không. Hồng Loan và Đào Hoa của tuổi Dậu luôn ở Ngọ, nghĩa là mọi nữ Tân Dậu đều có. Sách cũ dùng chúng để bàn duyên, nhưng chuyện cưới sớm hay muộn là lựa chọn gắn với hoàn cảnh, không thể đọc từ một ô cố định.
Văn Xương hoá Kỵ có phải học hành kém?
Không. Đây là hình ảnh sách dùng cho sự trục trặc liên quan giấy tờ, văn bản. Học tập phụ thuộc cách học và môi trường. Văn Xương an theo giờ nên vị trí mỗi người khác, và nó chỉ là một chi tiết nhỏ trên lá số.
Thiên Khôi của tuổi Tân có chắc ở Ngọ không?
Bảng phổ biến ở Việt Nam đặt Khôi ở Ngọ, Việt ở Dần cho can Tân. Một số phái đổi vị trí cho can Canh và can Tân hoặc dùng hệ khác, nên các lá số in từ nguồn khác nhau có thể lệch. Nên ghi rõ mình theo bảng nào khi so sánh.
Nữ sinh năm 2041 có giống nữ sinh năm 1981 trên lá số không?
Các sao an theo năm như Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Thiên Mã, Tuần Triệt và tứ hoá sẽ giống hệt, vì can chi lặp lại sau sáu mươi năm. Cung Mệnh, chính tinh và các sao theo tháng, ngày, giờ thì khác.