ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nữ mạng

Lá số tuổi Bính Dần nữ mạng 1986: Thiên Mã đứng ô Tuế Phá, Hồng Loan gặp Quả Tú

Nữ Bính Dần (1986) mệnh Lư Trung Hoả, dương nữ đi vận nghịch; Thiên Mã đứng ô Tuế Phá ở Thân, Hồng Loan ngồi cùng Quả Tú ở Sửu, Lộc Tồn và Đà La bị Triệt.

A woman around forty seen from behind loading a bicycle with a small bundle at the gate of an old village house at sunrise, dirt road ahead, warm amber light

Ô Thân trên lá số của nữ Bính Dần trông khá "ồn": Thiên Mã, Tuế Phá, Đại Hao, Thiên Hư, Phượng Các cùng chen trong một ô. Ô Sửu thì có cặp sao đặt cạnh nhau nghe như mâu thuẫn: Hồng Loan và Quả Tú. Hai ô này là chỗ người cầm lá số tuổi này hay hỏi nhất.

Nữ Bính Dần sinh năm âm lịch 1986 (vòng trước 1926), nạp âm Lư Trung Hoả, dương nữ nên đại vận đi nghịch. Sao theo năm: Lộc Tồn ở Tỵ, Kình Dương ở Ngọ, Đà La ở Thìn; Thiên Khôi ở Hợi, Thiên Việt ở Dậu; Thiên Mã ở Thân; Tuần ở Tuất–Hợi, Triệt ở Thìn–Tỵ. Tứ hoá can Bính: Thiên Đồng hoá Lộc, Thiên Cơ hoá Quyền, Văn Xương hoá Khoa, Liêm Trinh hoá Kỵ. Bài đọc hai ô ấy trước, rồi tới phần Lộc Tồn bị Triệt, tứ hoá và cách tự kiểm.

Ô Thân: Thiên Mã đứng chỗ Tuế Phá

Chi Dần thuộc nhóm Dần–Ngọ–Tuất nên Thiên Mã an ở Thân. Ô Thân là ô đối xung với năm sinh Dần, nên vòng Thái Tuế đặt Tuế Phá ở đó. Thiên Hư (Ngọ đếm thuận theo chi năm) và Phượng Các (Tuất đếm nghịch) cũng rơi vào Thân, thêm Đại Hao của vòng Bác Sĩ. Năm sao, không vướng Tuần Triệt.

Sách cổ đọc Thiên Mã là dịch chuyển, Tuế Phá là sự đối đầu với "cái gốc", Đại Hao là tiêu tốn, Thiên Hư là sự trống, Phượng Các là nét đẹp, văn chương. Gom lại, giọng sách thường là: đi nhiều, tiêu nhiều, hay thay đổi chỗ đứng, có khiếu thẩm mỹ. Một số bản cũ còn thêm lời răn "xa nhà mới khá".

Đọc tỉnh táo: tổ hợp Mã đứng ô Tuế Phá không riêng gì tuổi Bính Dần. Thiên Mã của bốn chi Dần, Thân, Tỵ, Hợi luôn rơi vào ô đối xung với chính chi năm, tức đúng ô Tuế Phá. Mọi người sinh năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi, nam hay nữ, đều có chi tiết này; còn tuổi Tý, Ngọ, Mão, Dậu và Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì không. Đó là một quan sát về cấu trúc bảng an sao, thú vị với người nghiên cứu, nhưng không mang lời báo gì cho ai.

Ví dụ giả định: Mệnh tại Dần, cùng chi năm sinh, Mộc tam cục, vận đầu ba tuổi. Mệnh có Thái Tuế, Tiểu Hao; Thiên Di ở Thân gom năm sao kể trên. Sách sẽ nói về một người được việc ở bên ngoài, môi trường mới, đồng thời nhắc chuyện chi tiêu khi đi xa. Quyết định đi làm xa hay không vẫn thuộc về công việc và gia đình thật.

Ô Sửu: Hồng Loan gặp Quả Tú

Hồng Loan của tuổi Dần đếm nghịch từ Mão hai bước, rơi vào Sửu. Quả Tú của nhóm Dần–Mão–Thìn cũng ở Sửu. Hai sao nghe như trái nghĩa: một sao duyên, một sao cô quạnh. Ô Sửu còn có Tướng Quân của vòng Bác Sĩ và Trực Phù của vòng Thái Tuế, không bị Tuần Triệt.

Sách nữ mệnh cũ nhắc "nữ sợ Quả Tú", và khi Quả Tú ngồi cạnh Hồng Loan, các bản cũ thường dựng câu chuyện duyên có mà khó trọn. Chính vì hai sao trái nghĩa, câu chuyện ấy rất dễ viết theo hướng nào cũng được. Đây là ví dụ điển hình cho cách sách cũ ghép sao: lấy nghĩa đen của tên sao rồi nối thành chuyện.

Một cách hiểu gần đời sống hơn: Hồng Loan là sự mềm mại, sức hút; Quả Tú là sự riêng tư, cần khoảng lặng. Người có cả hai thường ấm áp với người khác mà vẫn giữ một vùng riêng. Lá số có Mệnh ở Sửu sẽ nhận trọn ô này; Mệnh ở Tỵ hay Dậu nhận qua tam hợp; Mệnh ở Mùi nhận từ Thiên Di. Thiên Hỷ, sao đi cặp với Hồng Loan, ở Mùi đối diện, ngồi cùng Phục Binh và Tử Phù.

Lộc Tồn và Đà La bị Triệt, Thiên Khôi bị Tuần

Triệt của can Bính chắn Thìn–Tỵ, đúng chỗ Đà La (Thìn) và Lộc Tồn (Tỵ). Kình Dương ở Ngọ thì sạch. Ô Tỵ còn có Bác Sĩ, Cô Thần và Thiếu Âm; ô Thìn có Thiên Khốc, Lực Sĩ, Tang Môn. Như vậy cụm "lộc" bị chặn, cụm "sát" một nửa bị chặn, một nửa lộ.

Điểm khác với nữ Bính Tuất: tuổi Bính Tuất có Tuần ở Ngọ–Mùi nên Kình Dương ở Ngọ bị che, còn nữ Bính Dần có Tuần ở Tuất–Hợi, Kình Dương lộ hoàn toàn. Cùng can Bính, cùng Lộc Tồn bị Triệt, nhưng chỗ đứng của Tuần đổi theo chi năm, và Kình Dương ở Ngọ của nữ Bính Dần vì thế được sách đọc mạnh hơn. Ô Ngọ của tuổi Dần còn có Long Trì, Quan Phù, Quan Phủ.

Thiên Khôi của can Bính ở Hợi, nằm trong Tuần, ngồi cùng Phi Liêm và Phúc Đức. Thiên Việt ở Dậu sạch, cùng Bệnh Phù và Long Đức. Quý nhân công khai bị che, quý nhân kín đáo lộ; sách sẽ nói người giúp mình thường đến qua quan hệ riêng hơn là qua chức vị. Lời ấy đúng với hầu hết mọi người, nên giá trị của nó nằm ở chỗ nhắc giữ gìn các mối quan hệ.

Ô Ngọ: Kình Dương lộ, đi cùng Long Trì và hai chữ "quan"

Ô Ngọ của nữ Bính Dần gom Kình Dương (theo can Bính), Long Trì (Thìn đếm thuận hai bước theo chi Dần), Quan Phù của vòng Thái Tuế và Quan Phủ của vòng Bác Sĩ. Không Tuần, không Triệt. Trong các tuổi có Kình Dương ở Ngọ, đây là một trong những ô "đầy đủ" nhất.

Sách cổ ghép Kình Dương với hai sao mang chữ "quan" thành hình ảnh giấy tờ, pháp lý, tranh biện; Long Trì là sao văn nhã, gợi tài năng trình bày. Đọc chung, đó là chân dung một người sắc sảo trong lý lẽ, hợp với những việc phải trình bày, bảo vệ quan điểm. Một số bản cũ dọa chuyện kiện tụng; lối đọc ấy nên bỏ, vì ô Ngọ này có trên lá số của mọi người tuổi Bính Dần, không ai vì nó mà có thêm hay bớt chuyện pháp lý.

Ví dụ giả định: Mệnh tại Tuất, Mộc tam cục, vận đầu ba tuổi. Ô Mệnh có Hoa Cái, Hỷ Thần, Bạch Hổ trong Tuần; tam hợp Dần–Ngọ–Tuất đưa Thái Tuế (Dần) và cả ô Ngọ về chiếu. Sách sẽ tả một người trầm tĩnh bên trong mà ra ngoài nói năng có lý lẽ. Lời tả ấy có thể giúp người đọc nghĩ về cách mình giao tiếp, nhưng không nên trở thành lý do chọn hay bỏ một nghề.

Cũng nên biết: Kình Dương ở Ngọ thủ Mệnh là điều kiện của một cách cục có tên trong sách, và với nữ Bính Dần cách này "lộ" chứ không bị Tuần che như ở nữ Bính Tuất. Phần bàn chi tiết về cách cục ấy thuộc chuyên mục cách cục; ở đây chỉ ghi nhận vị trí.

Tứ hoá can Bính đọc trên lá số nữ Bính Dần

Thiên Đồng hoá Lộc. Sao hoà dịu, hưởng thụ được thêm lộc: niềm vui, sự dễ chịu đem lại lợi ích. Sách hay tả người được quý mến, công việc thuận nhờ quan hệ êm thấm.

Thiên Cơ hoá Quyền. Sao mưu tính được quyền quyết: người lập kế hoạch và được làm theo. Thiên Cơ và Thiên Đồng hay đứng gần nhau trong bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, nên nhiều lá số Bính có Lộc và Quyền chiếu về cùng một tam hợp.

Văn Xương hoá Khoa. Văn Xương an theo giờ, khởi ở Tuất đếm nghịch. Chữ Khoa làm sách khen về chữ nghĩa, giấy tờ suôn sẻ. Người sinh giờ Thìn có Văn Xương ở Ngọ cùng Kình Dương và Long Trì, một tổ hợp sách hay tả là "văn có gai".

Liêm Trinh hoá Kỵ. Sách cũ luận về thị phi, giấy tờ; bản nữ mệnh xưa còn chêm lời răn theo chữ "trinh". Lời răn đó nên bỏ. Đọc hôm nay: Liêm Trinh là nguyên tắc, hoá Kỵ là nguyên tắc va vào thực tế; lời nhắc thực tế là rõ ràng trong thoả thuận.

Cục theo cung Mệnh với can Bính và bản mệnh Lư Trung Hoả

Can Bính dùng chung bảng cục với can Tân. Cột cuối là sao vòng Bác Sĩ (khởi ở Tỵ, đi nghịch vì là dương nữ):

Mệnh ởCục / quan hệ với Lư Trung HoảSao vòng Bác Sĩ
TýThổ ngũ cục / mệnh sinh cụcTấu Thư
SửuThổ ngũ cục / mệnh sinh cụcTướng Quân
DầnMộc tam cục / cục sinh mệnhTiểu Hao
MãoMộc tam cục / cục sinh mệnhThanh Long
ThìnThuỷ nhị cục / cục khắc mệnhLực Sĩ
TỵThuỷ nhị cục / cục khắc mệnhBác Sĩ
NgọKim tứ cục / mệnh khắc cụcQuan Phủ
MùiKim tứ cục / mệnh khắc cụcPhục Binh
ThânHoả lục cục / đồng hànhĐại Hao
DậuHoả lục cục / đồng hànhBệnh Phù
TuấtMộc tam cục / cục sinh mệnhHỷ Thần
HợiMộc tam cục / cục sinh mệnhPhi Liêm

Đọc một hàng: Mệnh tại Thân là Hoả lục cục, đồng hành với bản mệnh, vận đầu sáu tuổi; vì đi nghịch, vận hai 16–25 ở Mùi có Thiên Hỷ, vận ba 26–35 ở Ngọ có Kình Dương, vận bốn 36–45 ở Tỵ có Lộc Tồn trong Triệt.

Người sinh năm 1986 đã ngoài bốn mươi; đọc lại chuỗi vận theo một vị trí giả định như trên thì dễ thấy chỗ khớp, chỗ không. Lá số là một hệ ký hiệu để nhìn lại thời gian, không phải bản đồ đã vẽ sẵn con đường.

Sách phổ thông, phần cần giờ sinh và cách tự kiểm

Sách Thái Ất phổ thông thường tả nữ Bính Dần là "nhanh nhẹn, tháo vát, hay đi lại, tiền bạc làm ra cũng tiêu nhiều, tình cảm có lúc chông chênh". Câu "hay đi lại, tiêu nhiều" gần như dịch thẳng ô Thân có Mã, Đại Hao; câu "tình cảm chông chênh" dịch ô Sửu có Hồng Loan, Quả Tú. Biết nguồn gốc của các câu ấy thì đọc chúng nhẹ nhàng hơn.

Phải có giờ sinh mới biết Mệnh, Thân ở đâu, chính tinh, chỗ thật của Thiên Đồng hoá Lộc và Liêm Trinh hoá Kỵ, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, Hoả Linh. Nhóm tuổi Dần–Ngọ–Tuất có Hoả Tinh khởi ở Sửu, Linh Tinh khởi ở Mão theo cách an thông dụng; thân chủ theo chi Dần là Thiên Lương.

Tự kiểm lá số nữ Bính Dần: ô Tỵ có Lộc Tồn, ô Ngọ có Kình Dương, ô Thìn có Đà La, ô Thân có Thiên Mã; Thiên Khôi ở Hợi, Thiên Việt ở Dậu; dấu Triệt giữa Thìn–Tỵ, dấu Tuần giữa Tuất–Hợi; Liêm Trinh mang chữ Kỵ. Muốn tra năm sinh hợp màu, hướng nào theo quan niệm dân gian, xem thêm tuviphongthuy.com.

Câu hỏi thường gặp

Nữ sinh năm 1986 mệnh gì theo nạp âm?

Người sinh trong năm âm lịch Bính Dần, phần lớn trùng năm 1986, có nạp âm Lư Trung Hoả. Người sinh đầu năm 1986 trước Tết âm lịch thuộc năm Ất Sửu, mệnh Hải Trung Kim, nên cần đối chiếu lịch âm.

Thiên Mã ở ô Tuế Phá có phải bất ổn?

Không. Sách dùng tổ hợp này để nói về dịch chuyển và thay đổi chỗ đứng. Mọi người tuổi Bính Dần, và cả các tuổi Dần khác, đều có Thiên Mã ở Thân trùng Tuế Phá, nên đây không phải lời báo riêng.

Hồng Loan gặp Quả Tú có phải duyên khó trọn?

Đó là cách sách cũ ghép nghĩa tên sao. Mọi người tuổi Dần đều có Hồng Loan và Quả Tú cùng ở Sửu. Hôm nay có thể hiểu là người ấm áp mà cần khoảng riêng; hôn nhân do hai người quyết định.

Lộc Tồn bị Triệt của nữ Bính Dần khác nữ Bính Tuất thế nào?

Cả hai đều có Lộc Tồn ở Tỵ bị Triệt. Khác ở Tuần: nữ Bính Tuất có Tuần ở Ngọ–Mùi che Kình Dương, còn nữ Bính Dần có Tuần ở Tuất–Hợi che Thiên Khôi, Kình Dương lộ.

Văn Xương hoá Khoa có giúp học hành không?

Đó là hình ảnh sách xưa dùng cho sự thuận lợi về chữ nghĩa. Học hành phụ thuộc cách học và điều kiện thật. Văn Xương an theo giờ nên vị trí khác nhau ở mỗi lá số.

Nam và nữ Bính Dần có chung ô Thân và ô Sửu không?

Có. Các sao ở hai ô này an theo can chi năm, không theo giới tính, trừ vòng Bác Sĩ. Nam Bính Dần đi thuận nên vòng Bác Sĩ đảo chiều, chỉ chung ô Bác Sĩ ở Tỵ và ô Phi Liêm ở Hợi đối diện.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.