Nam tuổi Đinh Mão sinh năm âm lịch 1987 (vòng trước 1927) mệnh Lư Trung Hoả, là âm nam nên đại vận đi nghịch. Bộ sao theo năm có ba tổ hợp đáng chú ý: Hồng Loan và Đào Hoa cùng đứng ở Tý; Thiên Mã gặp Đà La hãm ở Tỵ; Thái Tuế ở Mão nằm trong Triệt (Dần–Mão). Các vị trí khác: Lộc Tồn ở Ngọ, Kình Dương ở Mùi, Thiên Khôi ở Hợi trong Tuần, Thiên Việt ở Dậu. Can Đinh hoá Thái Âm thành Lộc, Thiên Đồng thành Quyền, Thiên Cơ thành Khoa, Cự Môn thành Kỵ.
Người sinh năm 1987 năm nay bốn mươi tuổi âm, và với âm nam, cả năm loại cục đều đang ở đại vận thứ tư, cung Tử Tức. Bài đi qua ba tổ hợp kể trên, đặc biệt là cặp Hồng–Đào mà sách phổ thông hay dùng để viết những lời về "đào hoa" của nam Đinh Mão, rồi xem phần tứ hoá can Đinh, một trong những can ít dị bản nhất.
Tết năm 1987 rơi vào 29 tháng 1 dương lịch; sinh trước ngày đó là tuổi Bính Dần.
Hồng Loan và Đào Hoa cùng ở Tý: lời sách và cách hiểu
Hồng Loan an theo chi năm, đếm ngược từ Mão; với tuổi Mão, Hồng Loan rơi vào Tý. Đào Hoa của nhóm Hợi Mão Mùi cũng ở Tý. Vì vậy mọi tuổi Mão, không riêng Đinh Mão, đều có cặp "Hồng Đào" đồng cung ở Tý, và Thiên Hỷ ở Ngọ đối diện, cùng ô với Lộc Tồn của can Đinh.
Sách cổ coi Hồng Loan là sao hôn nhân chính thức, Đào Hoa là sao của sức hút, sự duyên dáng. Đứng chung, chúng tạo thành tổ hợp được bàn nhiều nhất trong lời luận tình duyên. Các bản phổ thông dành cho nam mạng hay chép thành "đa tình", "nhiều mối", có bản còn thêm lời doạ về chuyện ngoài hôn nhân, một kiểu suy diễn đi xa khỏi chính các sách gốc.
Đọc cân bằng, Hồng Đào đồng cung là hình ảnh của người dễ tạo thiện cảm, có khiếu thẩm mỹ, hợp những việc cần giao tiếp. Và vì mọi người tuổi Mão đều có nó, ý nghĩa riêng chỉ xuất hiện khi ô Tý là Mệnh, Phu Thê hay Quan Lộc của chính người đó. Lá số dùng biểu tượng để kể chuyện; nó không có thẩm quyền phán xét đạo đức của ai.
Bộ khung theo năm của nam Đinh Mão
Tất cả các ô dưới đây không cần giờ sinh. Đáng chú ý là ô Mùi, nơi tụ nhiều sao nhất:
| Ô | Sao theo năm | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tý | Hồng Loan, Đào Hoa, Phi Liêm | cặp Hồng Đào |
| Mão | Thái Tuế, Thiên Khốc, Tiểu Hao | trong Triệt |
| Tỵ | Thiên Mã, Đà La (hãm), Cô Thần, Lực Sĩ | Mã gặp Đà |
| Ngọ | Lộc Tồn, Thiên Hỷ, Bác Sĩ | |
| Mùi | Kình Dương (đắc), Long Trì, Phượng Các, Hoa Cái, Quan Phủ | năm sao một ô |
| Dậu | Thiên Việt, Thiên Hư, Đại Hao | |
| Hợi | Thiên Khôi, Hỷ Thần | trong Tuần |
| Sửu | Quả Tú, Tấu Thư | |
| Mệnh chủ / Thân chủ | Văn Khúc / Thiên Đồng | theo chi Mão |
Long Trì đếm thuận từ Thìn, Phượng Các đếm nghịch từ Tuất, nên hai sao chỉ trùng ô ở tuổi Mão và tuổi Dậu; với tuổi Mão chúng gặp nhau ở Mùi. Cùng ô còn có Hoa Cái và Kình Dương đắc địa. Sách hay đọc ô Mùi của tuổi Mão là ô "văn nhã", thiên về nghệ thuật, chữ nghĩa, và có chút bướng nhờ Kình Dương.
Thiên Mã gặp Đà La ở Tỵ, cùng Cô Thần
Mọi tuổi Hợi, Mão, Mùi có Thiên Mã ở Tỵ; can Đinh (cũng như can Kỷ) có Lộc Tồn ở Ngọ nên Đà La ở Tỵ. Với Đinh Mão, hai thứ gặp nhau. Sách gọi Mã gặp Đà là "chiết túc mã", con ngựa vướng chân; thêm Cô Thần cùng ô (nhóm Dần Mão Thìn có Cô Thần ở Tỵ), lời luận thành "đi xa một mình, chậm mà vất vả".
Đà La ở Tỵ là hãm địa, nên sách càng nhấn mặt chậm trễ. Nhưng ô Tỵ không bị Tuần hay Triệt chạm, và ngay cạnh là ô Ngọ có Lộc Tồn, Thiên Hỷ. Một người đọc toàn diện sẽ thấy cặp Tỵ–Ngọ như một câu chuyện: con đường có lúc vướng, nhưng điểm đến có tích luỹ và niềm vui.
Hình ảnh ấy chỉ sống được khi đặt vào cung cụ thể. Nếu Tỵ là Thiên Di, sách nói về những chuyến công tác, đổi chỗ làm; nếu Tỵ là Tử Tức, câu chuyện lại về con cái, học trò. Không có giờ sinh thì chưa biết ô nào là ô nào.
Tứ hoá can Đinh: ít dị bản, dễ đọc
Can Đinh là một trong số ít can mà các phái gần như không tranh cãi về bốn sao hoá:
- Thái Âm hoá Lộc: sao của nhà cửa, tích luỹ, sự dịu dàng có Lộc; sách hay khen khi Thái Âm đóng cung ban đêm (từ Dậu đến Sửu), nơi sao này sáng.
- Thiên Đồng hoá Quyền: Thiên Đồng vốn hiền, an phận; thêm Quyền thì sách nói người hiền mà có tiếng nói, biết giữ hoà khí mà vẫn quyết được việc.
- Thiên Cơ hoá Khoa: sao mưu trí có Khoa, gắn với tiếng tốt về sự khéo léo, giỏi kế hoạch, kỹ thuật.
- Cự Môn hoá Kỵ: sao ngôn ngữ gặp Kỵ, sách cổ đọc là lời nói dễ gây hiểu lầm, thị phi. Đây là hoá được bàn nhiều nhất của tuổi Đinh.
- Đọc Cự Môn hoá Kỵ cho đúng: đó là lời nhắc về cách nói, không phải lời phán về tai tiếng. Nói chậm lại, viết rõ ràng, kiểm thông tin trước khi chia sẻ là những thói quen ai cũng nên có.
Mệnh chủ Văn Khúc và thân chủ Thiên Đồng (theo chi Mão) là hai sao mềm, nên sách phổ thông hay tả nam tuổi Mão là ôn hoà, có khiếu văn nghệ, một lời mô tả chung cho mọi tuổi Mão chứ không riêng Đinh Mão.
Đại vận thứ tư ở Tử Tức và Thái Tuế bị Triệt
Âm nam đi nghịch: Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức. Cục số của can Đinh theo Mệnh: Ngọ, Mùi là Thuỷ nhị cục; Tý, Sửu là Mộc tam cục; Dần, Mão, Tuất, Hợi là Kim tứ cục; Thân, Dậu là Thổ ngũ cục; Thìn, Tỵ là Hoả lục cục. Vận thứ tư đi từ ba mươi hai đến bốn mươi lăm tuổi tuỳ cục, nên ở tuổi bốn mươi, mọi nam Đinh Mão đều đang trong vận Tử Tức.
Ví dụ giả định: lá số Mệnh ở Mão, Kim tứ cục. Vận bốn (34–43) lùi ba ô theo chiều nghịch về Tý, đúng ô Hồng Loan, Đào Hoa. Sách sẽ đọc mười năm này về con cái, học trò, người dưới quyền, với sắc thái vui vẻ, được quý mến. Còn Mệnh ở Mão thì Thái Tuế toạ Mệnh trong Triệt, sách nói người có chính kiến nhưng nửa đầu đời ít được lắng nghe.
Những lời ấy là cách kể chuyện của một truyền thống cổ. Chúng không nói được gì về việc con mình học thế nào hay mình được đồng nghiệp tin đến đâu; những điều đó đến từ thời gian và cách mình đối xử với người khác. Muốn tra năm 1987 mệnh gì, hợp màu, hợp hướng nào theo quan niệm dân gian, có thể xem tuviphongthuy.com.
Lời sách phổ thông về nam Đinh Mão
Sách tử vi trọn đời khổ nhỏ hay viết cho nam Đinh Mão một đời "trung vận khá, hậu vận an", tình duyên chia theo tháng sinh, và danh sách tuổi hợp tuổi kỵ dựa trên tam hợp Hợi Mão Mùi, lục hợp Mão Tuất, xung Mão Dậu. Phần về tình duyên thường in đậm chữ "đào hoa" vì cặp Hồng Đào ở Tý.
Đó là kiểu đọc lấy một chi tiết chung của cả tuổi rồi biến thành nét riêng của từng người, cách làm khiến một nửa độc giả thấy "đúng" và nửa kia thấy vô lý. Giá trị của những cuốn sách ấy nằm ở chỗ chúng ghi lại cách người Việt một thời hình dung đời người, cùng những nỗi lo và hy vọng của họ.
Đọc lá số như đọc một văn bản văn hoá thì thú vị và có ích cho việc tự soi; đọc như lời tiên tri thì dễ tự trói mình vào những chữ không ai kiểm chứng được.
Nếu là nữ Đinh Mão: những ô đổi chỗ
Nữ Đinh Mão là âm nữ, đi đại vận thuận, nên ở tuổi bốn mươi người nữ cùng cục đang ở vận thứ tư theo chiều thuận, tức cung Điền Trạch, trong khi người nam ở Tử Tức. Vòng Bác Sĩ của nữ đi thuận từ Ngọ: Lực Sĩ sang Mùi, Thanh Long sang Thân, Quan Phủ về Tỵ, nên ô Tỵ của người nữ có Thiên Mã, Đà La, Cô Thần cùng Quan Phủ thay vì Lực Sĩ.
Phần giữ nguyên: Hồng Đào ở Tý, Lộc Tồn ở Ngọ, Kình Dương ở Mùi, Khôi Việt, Thiên Mã, Tuần Triệt và tứ hoá. Như vậy chuyện "đào hoa" mà sách gán cho tuổi Mão là chung cho cả nam lẫn nữ, chỉ khác ở chỗ sách cũ viết về nam thì gọi là "đa tình", viết về nữ thì gọi là "lận đận", hai cái nhãn khác nhau cho cùng một ô.
Nhận ra sự lệch nhãn đó giúp người đọc hôm nay tách được phần cấu trúc của lá số khỏi phần định kiến của thời đại đã viết ra lời luận.
Lộc Tồn và Thiên Hỷ ở Ngọ, Kình Dương đắc ở Mùi
Can Đinh (như can Kỷ) đặt Lộc Tồn ở Ngọ. Với tuổi Mão, Thiên Hỷ cũng ở Ngọ, đối diện Hồng Loan ở Tý; thêm Bác Sĩ đầu vòng và Thiếu Âm của vòng Thái Tuế. Ô Ngọ không bị Tuần hay Triệt chạm, nên sách coi đây là ô "sáng" của lá số Đinh Mão: tích luỹ đi cùng niềm vui, của cải đến từ những việc mình thích.
Kình Dương ở Mùi là đắc địa, được sách mô tả là cương quyết có chừng mực. Đà La ở Tỵ thì hãm, đi với Thiên Mã. Như vậy Lộc Tồn ở Ngọ bị kẹp giữa một Kình "êm" và một Đà "gắt". Ví dụ giả định: lá số có Mệnh ở Ngọ, Thuỷ nhị cục; Lộc Tồn và Thiên Hỷ toạ Mệnh, Huynh Đệ ở Tỵ có Mã Đà, Phụ Mẫu ở Mùi có Kình cùng Long Trì, Phượng Các. Sách sẽ tả một người có nếp nhà văn nhã, anh em hay đi xa, bản thân chăm tích luỹ. Lời tả nghe hay, nhưng vẫn là lời tả chung cho mọi nam Đinh Mão có Mệnh ở Ngọ.
Câu hỏi thường gặp
Nam sinh tháng 1 năm 1987 là tuổi gì?
Tết Đinh Mão rơi vào ngày 29 tháng 1 năm 1987. Sinh trước ngày đó là tuổi Bính Dần, mệnh Lư Trung Hoả giống nhau nhưng là dương nam, đi vận thuận, có bộ sao theo năm khác hẳn.
Hồng Loan Đào Hoa đồng cung có phải là đa tình?
Không nên suy như vậy. Mọi người tuổi Mão đều có Hồng Đào ở Tý. Sách đọc là người dễ tạo thiện cảm, có khiếu thẩm mỹ. Chuyện tình cảm phụ thuộc vào tính cách, giá trị sống và lựa chọn của từng người.
Chiết túc mã là gì?
Là tên sách cổ gọi Thiên Mã đứng cùng Đà La, hình ảnh ngựa vướng chân. Với nam Đinh Mão, hai sao gặp nhau ở Tỵ. Sách đọc là sự dịch chuyển hay chậm trễ; ý nghĩa thật tuỳ ô Tỵ là cung gì.
Cự Môn hoá Kỵ có nghĩa là hay bị thị phi?
Sách cổ đọc như vậy. Hiểu hôm nay, đó là lời nhắc về cách giao tiếp: nói rõ, viết rõ, kiểm tin trước khi nói. Mức độ thị phi trong đời thực phụ thuộc vào môi trường và cách cư xử, không vào một sao hoá.
Vì sao tứ hoá can Đinh ít dị bản?
Vì bốn hoá Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Cự Môn của can Đinh được chép giống nhau trong hầu hết sách cổ và các phái hiện đại. Các can có nhiều dị bản là Canh, Nhâm và Mậu.
Lư Trung Hoả nghĩa là gì?
Là "lửa trong lò", tên nạp âm của cặp Bính Dần và Đinh Mão. Đây là ẩn dụ trong hệ sáu mươi hoa giáp để xếp năm sinh vào hành Hoả, không mô tả tính cách hay số phận của người sinh năm 1987.