ThaiAtTuVi.comThái Ất Tử Vi
Lá số theo tuổi: nam mạng

Lá số tuổi Mậu Thìn nam mạng 1988: dựng bộ sao theo năm từng bước

Nam Mậu Thìn (1988, 1928) mệnh Đại Lâm Mộc, dương nam đi thuận; Đà La cùng Thái Tuế ở Thìn, Lộc Tồn ở Tỵ cùng Thiên Hỷ và Cô Thần, Thiên Khôi gặp Triệt ở Sửu.

Top-down view of a man's hands placing small smooth river stones into a wooden tray of twelve empty square compartments on a dark table, warm lamp, indigo cloth

Nam tuổi Mậu Thìn sinh năm âm lịch 1988 (vòng trước 1928) mệnh Đại Lâm Mộc, là dương nam đi đại vận thuận. Bộ sao theo năm: Lộc Tồn ở Tỵ, Kình Dương ở Ngọ, Đà La ở Thìn (cùng ô chi năm), Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi, Thiên Mã ở Dần, Tuần ở Tuất–Hợi, Triệt ở Tý–Sửu, Cô Thần ở Tỵ, Quả Tú ở Sửu. Can Mậu hoá Tham Lang thành Lộc, Thái Âm thành Quyền, Hữu Bật (hoặc Thái Dương) thành Khoa, Thiên Cơ thành Kỵ.

Thay vì liệt kê, bài này dựng bộ khung ấy từng bước trên một lá số giả định, đúng thứ tự một người tự lập lá số bằng tay sẽ làm. Cách này giúp hiểu vì sao mỗi sao nằm ở ô đó, và dễ tự kiểm khi hai trang lập lá số cho kết quả lệch nhau.

Tết năm 1988 khá muộn, rơi vào 17 tháng 2 dương lịch. Người sinh tháng Một và nửa đầu tháng Hai năm 1988 là tuổi Đinh Mão, không phải Mậu Thìn.

Tám bước điền bộ sao theo năm cho nam Mậu Thìn

Lá số giả định: nam, sinh năm Mậu Thìn, đã biết tháng và giờ để an Mệnh ở Dần (phần an Mệnh không bàn ở đây). Các bước sau chỉ dùng can Mậu và chi Thìn:

  1. Xác định âm dương: Mậu là can dương, giới nam, nên đây là dương nam; đại vận và vòng Bác Sĩ đi thuận.
  2. Lộc Tồn theo can: Mậu (như Bính) đặt Lộc Tồn ở Tỵ. Kình Dương đứng ô kế tiếp theo chiều thuận là Ngọ, Đà La đứng ô liền trước là Thìn.
  3. Khôi Việt theo can: câu khẩu quyết "Giáp Mậu Canh ngưu dương" đặt Thiên Khôi ở Sửu (ngưu), Thiên Việt ở Mùi (dương).
  4. Thiên Mã theo chi: nhóm Thân Tý Thìn có Mã ở Dần.
  5. Tuần theo tuần giáp: Mậu Thìn là năm thứ năm của tuần Giáp Tý (Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn); tuần này thừa hai chi Tuất, Hợi, nên Tuần ở Tuất–Hợi.
  6. Triệt theo can: Mậu và Quý đặt Triệt ở Tý–Sửu.
  7. Các sao theo chi khác: Hồng Loan ở Hợi, Thiên Hỷ ở Tỵ; Đào Hoa ở Dậu; Hoa Cái ở Thìn; Cô Thần ở Tỵ, Quả Tú ở Sửu; Thiên Khốc ở Dần, Thiên Hư ở Tuất; Long Trì ở Thân, Phượng Các ở Ngọ.
  8. Vòng Bác Sĩ: khởi từ Lộc Tồn ở Tỵ, đi thuận: Bác Sĩ Tỵ, Lực Sĩ Ngọ, Thanh Long Mùi… tới Quan Phủ ở Thìn.

Sau tám bước, lá số giả định đã có khoảng hai mươi lăm sao đứng yên chỗ. Phần còn lại (chính tinh, Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, Hoả Linh, Tràng Sinh, vị trí bốn sao hoá) mới cần ngày, tháng, giờ.

Ô Thìn: Đà La, Thái Tuế, Hoa Cái và Quan Phủ cùng một chỗ

Ô Thìn của nam Mậu Thìn gánh bốn sao: Đà La đắc địa, Thái Tuế (vì là chi năm), Hoa Cái (nhóm Thân Tý Thìn có Hoa Cái ở Thìn) và Quan Phủ, sao cuối của vòng Bác Sĩ. Nếu lá số có Mệnh ở Thìn, cả bốn sao toạ Mệnh. Sách cổ đọc Đà La đắc địa là bền bỉ, lì đòn; Thái Tuế là lý lẽ; Hoa Cái là sự thanh cao, thích học thuật, nghệ thuật, có chút cô độc.

Ghép lại, người theo sách sẽ tả một người chậm rãi, có nguyên tắc, thích đào sâu một việc, đôi khi bướng. Nhiều bản phổ thông còn thêm "hay vướng thị phi" vì Quan Phủ và Thái Tuế, nhưng đó là cách đọc tên sao theo nghĩa đen hơn là theo hệ thống.

Với lá số giả định Mệnh ở Dần, mười hai cung xếp nghịch từ Mệnh: Sửu là Huynh Đệ, Tý là Phu Thê; theo chiều ngược lại, Mão là Phụ Mẫu và Thìn là Phúc Đức. Như vậy bốn sao trên rơi vào cung Phúc Đức, và lúc này sách dùng chúng để nói về đời sống tinh thần, gốc gác, nếp nhà, chứ không nói về tính cách bản thân.

Ô Tỵ: Lộc Tồn đứng cùng Thiên Hỷ và Cô Thần

Tỵ là ô Lộc Tồn của can Mậu. Với tuổi Thìn, Thiên Hỷ (đối diện Hồng Loan ở Hợi) và Cô Thần (nhóm Dần Mão Thìn) cũng ở Tỵ, lại thêm sao Bác Sĩ. Một sao tích luỹ, một sao vui, một sao cô lẻ đứng chung: sách hay đọc thành "niềm vui đến từ việc tự làm ra", hoặc "giàu mà ít người chia sẻ".

Đối diện Tỵ là Hợi, nơi Hồng Loan nằm trong Tuần. Phái coi trọng Tuần sẽ nói chuyện tình cảm của nam Mậu Thìn đến muộn hoặc kín đáo, lời gần giống những gì sách viết về Cô Thần. Hai chi tiết cùng hướng nên lời đọc về "muộn duyên" trong sách phổ thông cho tuổi này khá phổ biến.

Ở tuổi ba mươi chín, nhiều người đã có gia đình, nhiều người chưa; lá số không phân biệt được hai nhóm đó, vì tất cả cùng có Tỵ và Hợi như nhau. Đó là bằng chứng giản dị nhất rằng bộ khung theo năm chỉ là nền, không phải mô tả cá nhân.

Ô Sửu và ô Dần: quý nhân trong Triệt, Thiên Mã gặp Thiên Khốc

Hai ô này đáng xem cùng nhau vì nằm sát nhau và đều có sao "được chờ đợi":

ÔSao theo nămLớp cheLời sách hay gặp
SửuThiên Khôi, Quả Tú, Bệnh PhùTriệtquý nhân đến chậm
DầnThiên Mã, Thiên Khốc, Đại Haokhôngđi xa mà lòng nặng

Thiên Khôi trong Triệt là phần chung của mọi tuổi Mậu, vì Triệt can Mậu luôn ở Tý–Sửu. Thiên Mã gặp Thiên Khốc là phần riêng của tuổi Thìn (Khốc theo chi). Sách cổ thường đọc Thiên Khốc đi cùng một sao động như Thiên Mã là chuyến đi mang nhiều nỗi nhớ, cảm xúc; đọc hôm nay đó chỉ là một hình ảnh văn chương, không phải điềm báo về những lần xa nhà.

Với lá số giả định Mệnh ở Dần của bài, ô Dần chính là Mệnh: Thiên Mã, Thiên Khốc và Đại Hao toạ Mệnh, còn Sửu là Huynh Đệ có quý nhân bị Triệt. Người đọc theo sách sẽ tả một người hay di chuyển, giàu cảm xúc, ít nhờ được anh em. Ba ý ấy cần đối chiếu với chính tinh ở Dần (an theo ngày sinh) trước khi kết luận bất cứ điều gì.

Tứ hoá can Mậu và đại vận thứ tư

Tham Lang hoá Lộc, Thái Âm hoá Quyền, Thiên Cơ hoá Kỵ được các phái thống nhất; Hoá Khoa là Hữu Bật theo phần lớn sách, Thái Dương theo một số bản lưu hành ở Việt Nam. Với lá số giả định của bài, nếu Thiên Cơ (an theo ngày sinh) rơi vào Mệnh ở Dần, người đọc sẽ nói về đầu óc nhanh mà hay tự làm khó mình, một lời nên được đọc như gợi ý tập trung hơn là phê phán.

Cục số can Mậu theo Mệnh: Dần, Mão, Tuất, Hợi là Thuỷ nhị cục; Thân, Dậu là Mộc tam cục; Tý, Sửu là Kim tứ cục; Thìn, Tỵ là Thổ ngũ cục; Ngọ, Mùi là Hoả lục cục. Lá số giả định Mệnh Dần là Thuỷ nhị cục, vận thứ tư (32–41) ở Tỵ, cung Điền Trạch, đúng ô Lộc Tồn, Thiên Hỷ, Cô Thần. Ở tuổi ba mươi chín, mọi nam Mậu Thìn đều đang ở vận thứ tư dù cục nào.

Lời sách cho vận này của lá số giả định sẽ là "tích luỹ nhà cửa, an cư bằng sức mình". Nghe hợp lý vì đó là việc phần đông người gần bốn mươi tuổi đang làm. Lá số kể chuyện bằng biểu tượng; quyết định thật cần số liệu thật.

Nam Mậu Thìn và nữ Mậu Thìn: phần nào đổi, phần nào giữ

Nữ Mậu Thìn là dương nữ, đi đại vận nghịch. Với lá số giả định Mệnh ở Dần, Thuỷ nhị cục, người nữ đi vận thứ tư ở Hợi, cung Tử Tức, nơi có Hồng Loan trong Tuần; người nam đi vận thứ tư ở Tỵ, cung Điền Trạch, nơi có Lộc Tồn. Cùng giờ sinh, cùng tuổi ba mươi chín, hai người đọc hai câu chuyện khác nhau.

Vòng Bác Sĩ cũng đổi: với nữ, vòng đi nghịch từ Tỵ, nên Lực Sĩ ở Thìn (thay vì Ngọ), Quan Phủ ở Ngọ (thay vì Thìn). Ô Thìn của người nữ vì vậy có Đà La, Thái Tuế, Hoa Cái và Lực Sĩ, mang sắc thái khác ô Thìn của người nam. Hoả Tinh, Linh Tinh, vốn an theo chi năm và giờ nhưng đổi chiều theo âm dương nam nữ, cũng thường lệch chỗ.

Những gì không đổi là phần theo can và chi: Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Thiên Mã, Tuần Triệt, Hồng Loan, Đào Hoa, Cô Quả, Khốc Hư, tứ hoá. Biết tách hai phần này là bước đầu để tự kiểm lá số in sẵn: nếu đổi giới mà những sao theo can chi cũng đổi chỗ, chắc chắn có lỗi nhập liệu.

Lời sách phổ thông về nam Mậu Thìn và một cách đọc thực tế

Những cuốn tử vi trọn đời bỏ túi thường mô tả nam Mậu Thìn là người "có chí lớn, tự lập, trung vận gặp thời", rồi kèm danh sách tuổi hợp làm ăn theo tam hợp Thân Tý Thìn, tuổi kỵ theo xung Thìn Tuất. Đó là kiểu lời chung, dễ nghe, và dễ thấy đúng vì ai ở tuổi gần bốn mươi cũng đang gây dựng.

Một cách đọc thực tế hơn là dùng bộ khung theo năm như danh mục câu hỏi: ô Lộc Tồn của mình là cung gì, mình đang tích luỹ ở đâu; ô Đà La là cung gì, mình kiên nhẫn được với việc gì; Thiên Cơ hoá Kỵ ở đâu, mình hay rối ở khâu nào. Mỗi câu trả lời lấy từ đời sống thật, không lấy từ sách.

Lá số giúp đặt câu hỏi, không cho đáp án. Chính các sách nghiêm túc cũng nói vậy, và đó là tinh thần nên giữ khi đọc mọi bài viết về tuổi mình, kể cả bài này.

Câu hỏi thường gặp

Nam sinh tháng 2 năm 1988 là tuổi Đinh Mão hay Mậu Thìn?

Tuỳ ngày. Tết Mậu Thìn rơi vào ngày 17 tháng 2 năm 1988, nên sinh trước ngày đó là Đinh Mão, từ ngày đó trở đi là Mậu Thìn. Hai tuổi khác hẳn nhau về nạp âm, chiều vận và bộ sao theo năm.

Đà La ở cung chi năm Thìn có phải là xấu?

Không. Đà La ở Thìn là đắc địa theo sách, được tả là bền bỉ, lì đòn. Ô này còn có Thái Tuế, Hoa Cái và Quan Phủ. Ý nghĩa cụ thể tuỳ ô Thìn là cung gì trên lá số từng người.

Có thể tự an bộ sao theo năm bằng tay không?

Có. Chỉ cần can, chi năm sinh và vài câu khẩu quyết: Lộc Tồn theo can, Kình Đà hai bên Lộc, Khôi Việt theo can, Thiên Mã theo nhóm tam hợp của chi, Tuần theo tuần giáp, Triệt theo can. Tự an giúp kiểm lại lá số in sẵn.

Vì sao Tuần của Mậu Thìn ở Tuất–Hợi?

Mậu Thìn thuộc tuần mười năm bắt đầu từ Giáp Tý. Mười can phối với các chi từ Tý đến Dậu, thừa hai chi Tuất và Hợi không có can đi kèm, nên Tuần đặt ở Tuất–Hợi.

Hoá Khoa của tuổi Mậu là Hữu Bật hay Thái Dương?

Phần lớn sách ghi Hữu Bật; một số bản lưu hành ở Việt Nam ghi Thái Dương. Hai sao an theo cách khác nhau nên Hoá Khoa có thể nằm ở hai cung khác nhau. Nên ghi rõ nguồn mình theo.

Đại Lâm Mộc là gì?

Là "cây trong rừng lớn", tên nạp âm của cặp Mậu Thìn và Kỷ Tỵ. Đây là ẩn dụ để xếp năm sinh vào hành Mộc, không phải lời mô tả tính cách, nghề nghiệp hay vận mệnh của người sinh năm 1988.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.